Bàn tay thô ráp của Thang Vĩnh Đạt miết mạnh lên kẽ nứt toác ở chuôi dao gác kèo. Vết nạy bằng mũi kim loại còn mới nguyên, cứa một đường nham nhở vào thớ gỗ mun bóng loáng từng thấm đẫm mồ hôi của hai thế hệ thợ rừng. Khoảng rỗng sâu hun hút bên trong cán dao giờ chỉ còn lại một vụn giấy điều mục nát bám vào đáy gỗ.
Gió rừng thốc từng cơn lạnh buốt qua khe liếp, thổi tung đám tàn tro nguội ngắt dưới chân kiềng sắt. Nhìn con dao trơ trọi ruột, lồng ngực Đạt thắt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt.
Ký ức kinh hoàng của mười năm trước bỗng chốc dội về, rõ mồn một như vừa xảy ra hôm qua.
Đó cũng là một mùa hoa tràm nở muộn trùng vào con nước lũ lớn. Anh họ của Đạt – người thợ gác kèo cừ khôi nhất xứ U Minh Hạ thời bấy giờ – vì túng quẫn nợ nần đã quyết định liều mạng chèo xuồng dấn thân vào những lung đầm ngập sâu săn bọng mật bổi.
Đạt quỳ xuống mé kinh van nài, níu lấy mạn xuồng can ngăn nhưng không thể lay chuyển được người anh đang quẫn bách. Cơn lốc xoáy hung tợn giữa ngã ba kinh Cái Tàu chiều hôm ấy đã nuốt chửng chiếc xuồng ba lá xuống đáy nước sâu.
Lúc dân làng vớt được người anh xấu số dạt vào bãi sậy, bàn tay tím tái của cha thằng Bảo vẫn nắm chặt con dao cán gỗ mun này. Trước khi trút hơi thở cuối cùng trên tay Đạt, người anh run rẩy trăn trối một câu duy nhất:
“Gìn giữ con dao… trao lại cho thằng Bảo… Trong ruột dao có mạng người, chớ dại nạy ra…”
Sau tang lễ, Đạt đón đứa cháu mồ côi mười hai tuổi về căn chòi lá bên kinh Cái Tàu nuôi nấng. Thằng Bảo lớn lên trong tình thương lặng lẽ của người chú, coi con dao như bùa hộ mệnh thiêng liêng nhất trần đời, lúc nào cũng giắt khư khư bên hông mỗi bận theo chú lội bùn gác kèo. Đạt chưa từng hỏi về bí mật bên trong cán dao, bởi ông luôn tin lời dặn dò của tiền nhân.
Có thể bạn thích
AD FILL
Kịch Bản Máu
Ngọc Cốt Hận Tình
Võng Giới Quyền Đấu
Sợi Dây Định Mệnh
Duyên Nợ Đế Vương
Thiên Hạ Này, Ta Làm Chủ
Ẩn Thế Tổng Tài
Ký Ức Băng Ghế Trường
Trẫm Không Yêu Ngươi
Vậy mà hôm nay, chiếc nẹp đồng đã bị bẻ gãy, đuôi dao bị phá toang. Thằng cháu họ của ông đã lấy đi vật giấu kín suốt một thập kỷ rồi biệt tích không một lời từ biệt.
“Mày dại dột quá rồi Bảo ơi…”
Đạt lẩm bẩm trong cổ họng, giọng nghẹn đắng. Ông cẩn thận giắt con dao rỗng ruột vào thắt lưng khăn rằn, với tay xách chiếc giỏ đệm đựng hũ sành chứa mật đỏ chu sa rồi sải bước rời khỏi căn buồng tối.
Khép chặt cánh cửa chòi dừa nước, Đạt nhảy xuống chiếc xuồng ba lá đang neo bên bến gòn. Mái dầm vung đều, đẩy chiếc xuồng lướt vun vút trên mặt nước đỏ quạnh, rẽ qua con rạch nhỏ hướng sang làng nghề Khánh An mé bên kia bờ kinh.
Xóm thợ gác kèo Khánh An đang vào mùa rộn rã. Khói un bổi xông tràm thoang thoảng bay là là trên các mái lá, tiếng dao vót thân tràm lách cách vang rền từ các bến sông. Vừa ghìm mũi xuồng cập bến cây cầu khỉ đầu xóm, Đạt đã thấy chú Tư Đờn đang ngồi tỉ mẩn vót một thân kèo non.
Đạt bước nhanh lên bờ, cất tiếng hỏi dồn:
“Chú Tư! Mấy bữa rày chú có thấy thằng Bảo nhà tui ghé qua xóm hôn?”
Chú Tư buông con dao vót kèo, ngước đôi mắt kèm nhèm nhìn Đạt, chân mày nhíu chặt vẻ ái ngại:
“Ủa, thằng Năm đó hả? Tao tưởng mày dẫn nó đi lấy mật miệt rạch Giếng Bướm chứ? Mà nhắc tới thằng Bảo tao mới nhớ, ba bữa trước tao thấy nó thập thò ngoài vàm kinh Cái Tàu. Nó đi chung với mấy đứa lạ hoắc lạ huơ ở đâu miệt trên đổ về.”
Tim Đạt nảy mạnh một nhịp. Ông bước sát lại mé ván:
“Người lạ ra sao chú Tư? Chú có nhìn rõ mặt tụi nó hôn?”
“Mặt mũi đứa nào đứa nấy dữ dằn lắm,” chú Tư hạ thấp giọng, thì thào như sợ sậy có tai. “Tụi nó đi chiếc vỏ lãi composite lớn tổ chảng, gắn máy đuôi tôm công suất cao chạy rẽ sóng muốn lật mấy chiếc xuồng câu trong kinh.
Trên thuyền có mấy cái thùng kim loại dài ngoằng, kêu tít tít kỳ lạ lắm. Thằng Bảo đứng cãi cọ gì đó với một gã mặt vuông bận áo đũi trắng đeo tràng hạt. Sau đó, thằng nhỏ chui tọt lên vỏ lãi rồi tụi nó nổ máy phóng bạt mạng về ngọn kinh, hướng thẳng vô rừng cấm.”
Lời kể của người thợ già như gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Đạt. Nhóm người lạ mang thiết bị kim loại, chiếc vỏ lãi công suất lớn lao thẳng vào rừng cấm, cùng lúc con dao kỷ vật bị nạy toác ruột… Mọi dấu hiệu đều chỉ ra rằng đứa cháu nông nổi của ông đã sa chân vào một cái bẫy vô cùng nguy hiểm.
Lòng dạ cồn cào như có lửa thiêu, Đạt chào vội chú Tư rồi quay ngoắt xuống xuồng. Hiện tượng bầy ong nổi loạn rung cánh hạ âm và dòng mật đỏ chu sa sáng nay ở rạch Giếng Bướm bỗng chốc đan cài vào vụ mất tích của thằng Bảo. Đất U Minh đang âm ỉ một biến cố khôn lường mà tầm hiểu biết của một thợ rừng bình thường như ông không tài nào lý giải nổi.
Lúc này, chỉ có một người duy nhất đủ uyên thâm để giải mã nguồn cơn: Lão Ba Thao. Đạt ra sức cắm mái dầm, chiếc xuồng ba lá xé nước lướt ngược dòng kinh Cái Tàu. Đi chừng mấy khúc sông, một căn nhà sàn dựng bằng gỗ tràm cổ thụ nép mình dưới rặng sậy um tùm dần hiện ra. Khói lam chiều bảng lảng tỏa ra từ chái bếp, mang theo mùi lá tràm khô ngai ngái quen thuộc.
Buộc dây mũi xuồng vào gốc cà na cổ thụ, Đạt xách giỏ đệm bước thoăn thoắt lên những bậc thang gỗ tràm gập ghềnh.
“Bác Ba! Con là thằng Đạt nè bác Ba… Con có chuyện hệ trọng cần cầu cứu bác!”
Trên bộ ván gõ dày cả tấc giữa gian nhà chính, Lão Ba Thao đang ngồi xếp bằng uống trà quao. Ở tuổi sáu mươi tám, râu tóc lão đã hoa râm búi gọn sau gáy, nước da đỏ au màu nắng gió đầm lầy, đôi mắt già nua ánh lên nét tinh anh quắc thước. Nhìn thấy dáng vẻ hớt hải, ướt đẫm mồ hôi của người học trò nối nghiệp, Lão Ba Thao đặt tách trà xuống khay, giọng rền vang từ tốn:
“Thằng Năm đó hả? Bớt hấp tấp lại coi. Người đi rừng bao năm, chuyện gì mà mặt mày tái mét như bị ma rừng bắt hồn vậy mày?”
Không kịp thở đều, Đạt bước đến bên sập, run rẩy lấy chiếc hũ sành từ trong giỏ đệm đặt lên mặt ván gõ. Ông lột bỏ lớp lá chuối khô bịt miệng hũ:
“Bác Ba ngó giùm con thứ này… Sáng nay con đi hạ tàn ong ở rạch Giếng Bướm, bầy ong rung cánh chấn động rạch nước, mật lấy ra lại mang màu này!”
Lão Ba Thao khựng lại. Ánh mắt lão dán chặt vào miệng hũ sành. Một sắc đỏ thắm như chu sa, óng ánh ma mị dưới ánh sáng ban chiều tỏa ra cùng luồng hơi lạnh the buốt đáy họng.
Bàn tay gân guốc của lão già khẽ run lên. Lão nhúng đầu ngón tay trỏ vào chất mật đỏ, đưa lên đầu lưỡi nếm thử. Vị ngọt gắt ban đầu nhanh chóng nhường chỗ cho vị the nồng của rễ huyết thảo ngâm bùn khoáng và hương thơm cổ xưa của đại ngàn.
“Chát!”
Lão Ba Thao đập mạnh bàn tay xuống mặt ván gõ, lồng ngực phập phồng dữ dội. Đôi mắt lão mở to, nhìn sững vào Đạt bằng ánh mắt kinh hoàng chưa từng thấy:
“Mật chu sa… Đúng là mật chu sa rồi! Trăm năm nay mới xuất hiện lại một lần… Mạch thiêng U Minh Hạ động thật rồi!”
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: https://truyenfull.live
Đạt nín thở, giọng run rẩy:
“Bác Ba… Mật chu sa rốt cuộc là điềm lành hay dữ? Sao bầy ong lại đập cánh u u như có sấm ngầm dưới lòng nước vậy bác?”
Lão Ba Thao vuốt chòm râu bạc, trầm giọng kể lại huyền tích năm xưa:
“Hơn một thế kỷ trước, nghĩa quân của hai vị thủ lĩnh Đỗ Thừa Luông và Đỗ Thừa Nhơn lui về chốn U Minh Hạ dựng cờ chống giặc ngoại xâm.
Khi nghĩa quân thất thế hy sinh oanh liệt, các bậc tiền nhân mở cõi đã bí mật an táng di cốt tướng sĩ tại Gò Kháng Tiết – gò đất phù sa cổ nhô cao giữa đầm lầy Lung Quỷ.
Để giặc không thể quật mồ cướp phá ấn tích, tiền nhân đã lập nên trận thế kèo ong bách trận, cắm cọc tràm bọc sáp bách niên quanh mộ, mượn sức vạn vạn đàn ong rừng U Minh làm lính hộ vệ canh giữ giấc ngủ ngàn thu.
Đàn ong hút mật hoa tràm đỏ cổ thụ mọc trên gò đất ngấm máu nghĩa sĩ, tạo nên dòng mật đỏ chu sa. Giao ước ngầm đã định: bao giờ long mạch Gò Kháng Tiết bị kẻ gian xâm phạm, bầy ong sẽ rung cánh hạ âm phát tín hiệu cảnh báo…”
Nghe đến hai chữ “Lung Quỷ”, tim Đạt đập thình thịch như trống điểm. Ông run rẩy rút con dao gác kèo bên hông ra, đặt phịch xuống trước mặt Lão Ba Thao:
“Bác Ba… Thằng Bảo nhà con đã mất tích mấy ngày nay. Con dao kỷ vật của cha nó trăn trối để lại… sáng nay con thấy bị cạy bung nẹp đồng, nạy toạc đuôi cán, ruột dao trống trơn. Dân làng thấy nó theo chân đám người lạ mang máy móc xông thẳng vô rừng cấm!”
Nhìn thấy con dao mun bị toác đuôi để lộ khoảng rỗng đen ngòm, sắc mặt Lão Ba Thao thoắt cái biến sang trắng bệch. Lão chồm tới, chộp lấy con dao, ngón tay run rẩy sờ vào từng thớ gỗ mun bị xới xáo.
Lão Ba Thao ghé sát tai Vĩnh Đạt, giọng rền vang vẻ kinh động:
“Chuôi dao đó giấu nửa tấm bản đồ vào cấm địa Lung Quỷ; thằng Bảo trót dại chạm vào cấm kỵ của tiền nhân rồi!”
truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive
truyenfull,truyenfull vn