Nằm sâu trong một con ngõ nhỏ quanh co thông ra phía sau chợ Tây của Trường An, có một căn nhà hai lầu cũ kỹ, mái ngói đã mọc đầy rêu xanh. Ba tháng sau khi ly hôn, trước cửa căn nhà này xuất hiện một bảng hiệu bằng gỗ bách đơn sơ, trên đó khắc ba chữ bằng nét bút thanh mảnh nhưng cứng cỏi: “Khô Mộc Đường”.Ban đầu người dân quanh ngõ thấy một phụ nhân trẻ tuổi, tuy ăn mặc giản dị bằng vải thô màu xám tro nhưng cử chỉ hành vi đoan trang, lời nói dịu dàng đến thuê căn nhà này thì ai nấy đều tò mò tột độ. Đến khi biết nàng mở tiệm để làm nghề sửa sách cũ, những lời bàn tán, chế giễu lại rộ lên không ngớt.Ở cái đất Kinh kỳ phồn hoa đô hội này, nghề sửa sách bị coi là một trong những nghề hèn mọn và tẻ nhạt nhất. Suốt ngày phải giam mình trong căn phòng tối, ngửi mùi hồ dán nồng hắc pha lẫn với mùi giấy mục mốc meo bao nhiêu năm, mười đầu ngón tay lúc nào cũng dính đầy mực đen và nhựa cây xám xịt. Nghề này kiếm chẳng được bao nhiêu tiền, lại đòi hỏi sự kiên nhẫn vô hạn, vốn chỉ dành cho những lão già nghèo khổ không còn sức lao động, hoàn toàn không thích hợp cho một nữ tử trẻ tuổi. Nhưng Hạ Cầm Thanh bỏ ngoài tai tất cả những lời đàm tiếu ấy.Từ nhỏ nàng đã đi theo phụ thân là một vị tú tài nghèo cả đời thi không đỗ, chỉ biết làm bạn với nghiên bút, học được thuật đóng sách và phục chế tranh chữ cổ. Đối với nàng, mỗi cuốn sách cũ không phải là một xấp giấy vô tri, mà là một sinh mệnh đã từng sống, từng chứa đựng tâm tư của một con người, một thời đại. Nàng đặt tên tiệm là “Khô Mộc”, lấy ý từ câu “Khô mộc phùng xuân”, khúc gỗ khô gặp mùa xuân lại đâm chồi nảy lộc. Nàng muốn dùng đôi bàn tay của mình để đem những trang giấy đã chết hồi sinh trở lại một lần nữa.Căn tiệm nhỏ hẹp của nàng, qua thời gian, bỗng chốc trở thành một lăng kính thu nhỏ của nhân sinh chốn Kinh kỳ.Có gã thư sinh nghèo kiết xác tên là Lưu Kiến, chiếc áo trường bào màu xanh đã chằng chịt những vết vá, mang đến một cuốn Luận Ngữ rách tả tơi, các trang sách đã mủn ra như xơ mướp, vừa gãi đầu ngượng ngùng vừa nói: “Hạ nương tử, tháng sau ta phải tham gia kỳ thi Hương rồi. Cuốn sách này là di vật duy nhất của tổ phụ để lại, cô xem có thể vá lại để ta đọc nốt ba chương cuối được không? Tiền công… ta xin khất đến sau khi bảng vàng đề tên.” Hạ Cầm Thanh không hề ghét bỏ, nàng mỉm cười nhận lời, mười đầu ngón tay thoăn thoắt lựa chọn loại giấy xuyến mỏng như cánh ve để nối lại từng nét chữ bị mờ.Lại có một góa phụ trẻ ở đầu ngõ, hai mắt sưng húp vì khóc, bế đứa con nhỏ chưa đầy tuổi, mang đến một quyển gia phả mỏng dính bị cháy xém mất một nửa do một trận hỏa hoạn. Nàng vừa sụt sịt vừa nói: “Nhà chồng ta đều chết trận ở biên thùy năm ngoái cả rồi, trong nhà chỉ còn lại cái tên của họ trong cuốn gia phả này để đứa nhỏ lớn lên biết cội nguồn, biết cha nó là ai. Xin nương tử rủ lòng thương, cứu lấy nó.” Hạ Cầm Thanh im lặng gật đầu, nàng đón lấy cuốn sách bị cháy, tỉ mẩn dùng những sợi tơ lụa nhuộm nước trà cổ để phục chế lại phần rìa giấy.Cứ thế, qua đôi bàn tay khéo léo của Hạ Cầm Thanh, những mảnh vỡ của thời gian, những ký ức tưởng chừng đã tan biến được gắn liền trở lại. Người ta tìm đến Khô Mộc Đường không chỉ để sửa một cuốn sách, mà là để giữ lại một niệm tưởng trong cuộc đời mình.Vào một buổi chiều muộn tháng mười, gió bấc thổi mạnh, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông đang đến gần. Tiếng lá khô xào xạc trên mặt đường. Một lão phụ nhân chống gậy trúc, toàn thân mặc một bộ áo vải thô màu xám tro, gương mặt đầy những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày bước vào tiệm. Bà lão đặt lên chiếc bàn gỗ dài một gói vải bọc kỹ lưỡng bằng nhiều lớp, giọng nói run rẩy, khàn đặc:“Nghe người ta đồn, Hạ nương tử ở đây có thể làm cho chữ đã mờ hiện trở lại, có thể nối lại những trang giấy đã rách?”Hạ Cầm Thanh vội vã đỡ bà lão ngồi xuống chiếc ghế tre bên lò sưởi, rót một chén nước ấm đặt vào đôi bàn tay đang run cầm cập của bà: “Bà cứ từ từ nói, ta sẽ cố hết sức.”Bà lão run rẩy mở từng lớp vải bọc ra. Bên trong là một quyển gia phả của một chi nhà họ Trần ở vùng Hà Bắc. Cuốn sách bị ẩm mốc nghiêm trọng do để ở nơi ẩm thấp lâu năm, các trang giấy dính chặt vào nhau thành một khối cứng ngắc, mủn ra giống như đất sét khô, mùi mốc ẩm xộc thẳng vào mũi.Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: “Đây là gia phả của nhạc gia nhà con trai lớn của ta.” Bà lão thều thào, đôi mắt đục ngầu ứa ra hai giọt nước mắt già nua. “Cả nhà họ… không còn một ai sống sót nữa rồi. Nay ta đã già, sống nay chết mai, chỉ muốn trước khi nhắm mắt xuôi tay, được nhìn lại cái tên của mấy đứa nhỏ năm đó một lần cuối, xem tụi nó được ghi chép thế nào.”Hạ Cầm Thanh gật đầu, ánh mắt lộ vẻ nghiêm túc. Việc tách các trang sách bị đóng khối do ẩm ướt là một thử thách lớn nhất đối với người sửa sách, đòi hỏi một sự kiên nhẫn và tỉ mỉ tột độ. Nàng mang cuốn sách vào phòng trong, đặt lên một chiếc vỉ hấp chuyên dụng, dùng hơi nước ấm bốc lên từ nồi nước thuốc để làm mềm lớp hồ dán từ từ. Sau đó, dưới ánh đèn dầu hạt cải tù mù, nàng ngồi dùng một con dao mỏng như lá lúa, nhẹ nhàng, cẩn trọng gỡ từng sợi xơ giấy ra, không dám lơ là dù chỉ một khắc, vì chỉ cần một cái run tay nhẹ, cả trang giấy sẽ hóa thành vụn cám.Nàng làm việc miệt mài suốt ba canh giờ. Đến khi đêm đã về khuya, tiếng trống canh ba từ xa vọng lại, Hạ Cầm Thanh mới tách được đến những trang cuối cùng của cuốn gia phả nhà họ Trần. Chi này định cư ở huyện Thanh Bình, thuộc phủ Hà Bắc. Khi mắt nàng lướt qua những dòng chữ ghi chép về niên hiệu Vĩnh Gia năm thứ mười hai, ngón tay đang cầm con dao của nàng đột nhiên khựng lại, toàn thân cứng đờ.Năm Vĩnh Gia thứ mười hai. Đó là chín năm trước.Trên trang giấy màu vàng đã hoen ố, tên của hơn ba mươi người thuộc ba thế hệ của nhà họ Trần được viết bằng mực đen với nét chữ nghiêm cẩn của một người biết chữ trong làng. Nhưng điều kinh hoàng là, bên cạnh mỗi cái tên, từ cụ già tóc bạc trắng tám mươi tuổi cho đến đứa trẻ sơ sinh mới được ba tháng tuổi, đều có một dấu gạch chéo bằng mực đỏ chói mắt, cùng một dòng chữ nhỏ ghi ngày mất.Tất cả hơn ba mươi con người của chi này đều chết vào cùng một tháng… là tháng Chạp năm Vĩnh Gia thứ mười hai.Hạ Cầm Thanh cảm thấy tim mình đập nhanh hơn một nhịp. Nàng nhíu mày, lục tìm trong ký ức của mình. Chín năm trước, năm Vĩnh Gia thứ mười hai, nàng vẫn còn là phu nhân trong phủ Hộ Bộ Thị Lang, sống trong cảnh giàu sang phú quý. Nàng nhớ rất rõ vào mùa đông năm đó, Kinh thành Trường An khánh hạ lớn, đèn hoa rực rỡ suốt ba ngày ba đêm. Hoàng thượng ban chiếu chỉ khắp thiên hạ, khen ngợi việc triều đình cứu tế nạn đói ở Hà Bắc thành công mỹ mãn. Tờ giấy công bố của quan phủ dán ở cổng thành Trường An vang dội từng chữ lớn: “Đại cứu tế thành công.”Năm đó Chu Thừa Lân vừa được thăng chức làm Thị độc Học sĩ tại Hàn Lâm Viện nhờ có công tham gia vào việc điều phối lương thực cứu tế. Đêm về, hắn hiếm khi lộ vẻ vui mừng, vuốt tóc nàng nói rằng tai ương phương Bắc đã qua, bách tính đã có cháo ăn, đã có nhà để về, thiên hạ lại ca khúc ca vui mừng.Vậy thì tại sao, một chi trong tộc hơn ba mươi người ở ngay lòng Hà Bắc lại chết sạch trong vòng một tháng, ngay giữa lúc triều đình tuyên bố cứu tế thành công?Ban đầu, Hạ Cầm Thanh tự trấn an bản thân rằng đây có thể là một sai sót của người ghi chép gia phả, hoặc gia đình này không may gặp phải một vụ cướp bóc hay hỏa hoạn cục bộ nào đó ở thôn quê. Nàng đưa trang giấy lên gần ngọn đèn dầu, nheo mắt nhìn kỹ vào phần rìa của trang giấy, nơi nối giữa trang sách và gáy sách. Đột nhiên, đồng tử của nàng co rụt lại.Trang giấy ghi chép về cái chết của chi tộc này không phải là loại giấy xuyến thông thường dùng để viết gia phả gia đình. Chất giấy của nó xốp hơn, bề mặt mịn nhưng khi đưa lên ánh đèn sẽ thấy những sợi vân dọc ngang đặc trưng của “Giấy Thanh Đằng” chuyên dụng, có đóng dấu chìm của quan phủ, chỉ được dùng để làm hồ sơ hộ tịch và công văn chính thức.Có ai đó đã dùng một con dao sắc bén, cắt phăng trang giấy gốc trong cuốn gia phả này đi. Sau đó, người đó khéo léo dùng hồ dán, đè một trang giấy Thanh Đằng của quan phủ lên, phỏng theo nét chữ cũ của cuốn sách để chép lại danh sách người chết này.Đây không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đây là một sự ngụy tạo có chủ đích, một vết thương rướm máu của lịch sử đã bị một bàn tay quyền lực nào đó dùng một lớp vải thưa che đậy lại.
