Không một thoáng chần chừ, Thái Đình Chương giật phắt chiếc khăn lau máy đen ngòm dầu mỡ trên vách nứa, bọc kín chiếc hộp thiếc tròn nhỏ rồi nhét sâu xuống đáy giỏ tre đựng giẻ vụn ngâm dầu thông bết đầy hắc ín. Động tác của ông mau lẹ, chuẩn xác và không hề phát ra một tiếng va đập kim khí nào.
Quay sang Lộc, ông ấn mạnh bàn tay thô ráp lên bả vai đang cứng đờ của người học trò, ghìm chặt cơn bồn chồn của cậu bằng ánh nhìn điềm đạm.— Cầm bay trộn mực lên, đứng ngay góc bàn, vờ như đang nghiền bột than.
— Đình Chương hạ giọng dặn khẽ, đoạn quệt hai ngón tay dính muội đèn lên vạt tạp dề thợ in trước khi bước tới giật then cài. Cánh cửa gỗ vừa hé ra, viên quản đốc René đã xông xáo lấn vào, mặt đỏ gay như gà chọi, theo sau là một gã đàn ông bận âu phục vải lanh màu xám tro, cổ cồn hồ cứng, mắt đảo quanh buồng tối như cú vọ.
Đó chính là Ký Biểu, tên tay sai đắc lực phụ trách việc coi sóc tiền bạc và văn thư cho Tôn Thất Chiêu.— Làm cái trò quỷ gì mà then cài then đóng giữa thanh thiên bạch nhật? — René sừng sộ, vung chiếc can ba-toong gõ cồm cộp xuống nền gạch tàu. — Quan Đốc phủ phái thầy Ký sang giục việc.
Các người có biết trễ một buổi in là cả cái xưởng này phải đền tiền giao kèo không hả? Đình Chương đứng nép sang một bên, hơi khom lưng theo dáng vẻ cam chịu của một thợ quèn, giọng trầm và phẳng lặng:— Bẩm ông quản đốc và thầy Ký xá lỗi.
Bộ chữ hoa mười tám pông của quan Đốc phủ nét chạm quá tinh vi, dùng mực thường của xưởng in lên giấy bồi sẽ bị nhòe chân chữ. Thầy trò tôi phải đóng kín cửa buồng để tránh gió lọt làm khô dầu lanh, cặm cụi pha riêng mẻ mực bóng có gia thêm bột bồ hóng hảo hạng.
Có như vậy, bản in tuyển cử của quan lớn mới đen tuyền, bóng bẩy, xứng tầm trang trọng trước các cử tri Hội đồng Quản hạt. Ký Biểu nhướng cặp lông mày rậm, bước chậm rãi đến bàn đá. Ánh mắt săm soi của gã lướt qua con dao trổ phôi thép, chén sành dính vệt bột xám sẫm màu dầu, rồi dừng lại trên khay con rùa.
Mười hai con chữ hoa chì antimon nằm xếp ngay ngắn, mặt chữ sạch bóng không tì vết, phản chiếu ánh sáng lờ nhờ từ ngọn đèn hột vịt. Gã thò bàn tay trắng trẻo, ngón đeo nhẫn bạc gõ nhẹ lên mép con chữ “T”, hất hàm hỏi:— Đã vô khuôn xong chưa? Chiều mai quan Đốc phủ đích thân cho xe kéo sang chở đủ mười ngàn bản in.
Thiếu một tờ, trầy một nét, cả lũ thợ quèn các người đừng mong yên thân ở đất Sài Gòn này.— Thưa thầy Ký cứ yên tâm, — Đình Chương từ tốn cúi đầu, hai tay buông thõng giấu đi những đầu ngón tay chai sạn. — Mực vừa ngấu, canh ba đêm nay thợ sẽ vô khuôn chạy máy dẹp Marinoni.
Đúng giờ hẹn ngày mai, mười ngàn bản in thẳng thớm sẽ giao tận tay quan Đốc phủ. Ký Biểu khịt mũi khinh khỉnh, đưa khăn mùi xoa lên che mũi trước mùi dầu thông nồng nặc rồi quay lưng bước ra:— Liệu hồn mà làm. Đi thôi, ông René! Ở cái xưởng hôi hám này thêm một khắc là váng cả đầu!
Tiếng giày đinh nện cộc cộc trên sàn xưởng xa dần, rồi tiếng cổng sắt nặng nề khép lại. Bầu không khí ngột ngạt trong buồng pha mực chùng xuống. Lộc buông chiếc bay trộn, tựa lưng vào vách nứa th* d*c, mồ hôi ướt đẫm trán:— Hú hồn… Tí nữa là bại lộ, thưa thầy… Đình Chương không đáp.
Ông điềm tĩnh cúi xuống giỏ tre, lấy chiếc hộp thiếc bọc trong khăn dầu ra, kiểm tra lớp sáp ong miết mép vẫn còn nguyên vẹn rồi mới bỏ vào túi trong chiếc áo bà ba đen.— Giữ được vật chứng này mới chỉ là bước đầu, — Đình Chương trầm giọng nói.
— Khối thạch cao và sợi bavia chứng minh mười hai con chữ này đúc từ cùng một cỗ máy với truyền đơn năm xưa. Nhưng muốn buộc tội Tôn Thất Chiêu trước thanh thiên bạch nhật, chúng ta phải lùng ra tận gốc cỗ máy đúc tay rập đồng ấy. Chiêu là kẻ đa nghi như Tào Tháo.
Nhất định y không bao giờ dám đem cỗ máy ngụy tạo cất trong tư dinh hay gửi ở các nhà in lớn của người Pháp. Chương rút từ đáy túi vải chiếc chìa khóa đồng nhỏ, mở chiếc tủ gỗ thấp nơi góc buồng, lấy ra một tập giấy ố vàng đã sờn rách mép.
Đó là tập di cảo ghi chép của Ba Thuận — người thợ nấu chì kỳ cựu ở Chợ Lớn đã qua đời tám năm trước. Đình Chương lật từng trang giấy chữ Nho xen lẫn quốc ngữ viết bằng mực tàu gai góc, ngón tay lần theo những cột số liệu ghi chép từ mùa thu năm 1920.Đến trang thứ chín, ngón tay ông bỗng khựng lại.
Mắt Đình Chương nheo lại dưới ánh đèn. Dòng chữ viết vội bằng ngòi bút sắt hiện rõ mồn một: “Tháng Chín năm Canh Thân (1920), giao mười kí-lô hợp kim chì Nam Kỳ pha antimon và ba lạng đồng vụn cho xe nhà Tri phủ Tôn Thất Chiêu.
Địa điểm nhận: kho phế liệu sắt vụn bến Tàu Hủ, mé rạch Chợ Lớn.”Lộc ghé mắt nhìn, thì thầm thảng thốt:— Kho phế liệu bến Tàu Hủ? Chẳng phải đó là khu đất hoang cách cầu Mống chừng hai cây số, nơi ghe thuyền chở than đá hay cập bến sao thầy?— Chính là nó, — Đình Chương gật đầu, giọng đanh lại.
— Năm đó Chiêu vừa nhậm chức Tri phủ, cấu kết với mật thám lập mưu hại chú Hoài. Y mượn danh nghĩa thu gom sắt vụn để dựng một lò đúc thủ công dã chiến ngay trong kho phế liệu hẻo lánh, tự tay đúc mẻ chữ hoa mười tám pông giả mạo rồi vứt bỏ lò đúc tại chỗ nhằm bịt đầu mối.
Cỗ máy đúc tay cong vênh mười lăm năm trước chỉ có thể nằm vùi dưới lớp xỉ than của gian kho hoang phế đó! Chập tối hôm ấy, khi hồi chuông nhà thờ Tân Định vừa điểm sáu tiếng ngân dài qua màn sương lam ẩm ướt, ca thợ chiều ở xưởng in Viễn Đông tan cuộc.
Hai thầy trò không về gác xép mà rẽ vào con hẻm nhỏ sau Chợ Cũ, thay vội bộ áo bà ba đen bạc phếch vá vai, quấn khăn rằn quanh cổ, đầu đội nón lá rách rưới giả dạng phường phu khuân vác bến tàu.
Gió từ sông Sài Gòn thổi thốc vào lòng rạch Tàu Hủ, mang theo mùi sình lầy ngai ngái hòa lẫn hơi dầu cặn bốc lên từ những chiếc xà lan chở than đá. Dọc bến sông, ánh đèn dầu leo lét hắt ra từ những căn nhà sàn chênh vênh trên cọc gỗ.
Tiếng đập lách cách của người chèo đò đêm, tiếng bánh xe thổ mộ nghiến lộc cộc trên mặt đường đá dăm xa xa càng làm cho con đường đất ven rạch thêm phần quạnh quẽ, âm u.Lần theo bờ kênh đầy rác rưởi và cọc tiêu mục nát, hai người dừng lại trước một khuôn viên rộng lớn quây kín bằng tôn rỉ sét.
Tấm biển gỗ mục treo lệch một bên cổng sắt chỉ còn lờ mờ hàng chữ sơn đen: “Dépôt de Ferraille - Chợ Lớn”. Bên trong, hàng chục gò phế liệu, bánh xe bò hỏng, nồi súp-de tàu thủy vỡ nát nằm ngổn ngang dưới bóng những rặng dừa nước rậm rạp, tựa như những nấm mồ kim khí hoang tàn giữa đêm đen.
Đình Chương bước chậm lại, ra hiệu cho Lộc nép sát vào một bụi dứa dại. Ánh mắt từng trải của người thợ cả chợt khựng lại nơi lối vào cổng phụ. Dưới nền đất sét ẩm ướt sát mép rãnh nước, hai vệt bánh xe kéo hằn sâu thành rãnh dài song song, mép bùn còn lóng lánh nước, chưa hề bị đất khô bồi lại.
Cạnh vết bánh xe là những dấu đế giày da Tây có bịt sắt gót, in rõ từng khía rãnh sắc lẹm trên mặt bùn non. Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Chương ngồi thụp xuống, đưa ngón tay khẽ chạm vào đáy rãnh bùn.— Vết bánh xe mới toanh, — ông thì thầm, giọng đanh và gấp.
— Bùn chưa kịp lắng cặn, người kéo xe chỉ vừa vào đây chừng nửa khắc trước. Lộc nắm chặt lấy khúc đòn xóc mang theo bên mình, tim đập thình thịch:— Có kẻ đi trước chúng ta sao thầy? Hay là người của Chiêu…— Không sai.
Tiệp vào hầm văn khố Tòa Thượng thẩm lật lại hồ sơ buổi sáng thì buổi trưa Chiêu đã phái Ký Biểu sang xưởng răn đe. Tên cáo già ấy đã đánh hơi thấy nguy cơ bị lật lại vụ án năm xưa. Y đang cho người cấp tốc đến đây vét sạch dấu vết lò đúc cũ để quẳng xuống lòng kênh trước ngày bầu cử!
Chương kéo thấp vành nón lá, dẫn học trò men theo bức tường tôn rỉ thủng lỗ chỗ, luồn sâu vào góc kho hoang nơi từng đặt bễ nấu chì. Mùi xỉ than cũ mốc meo nồng nặc bốc lên lẫn với mùi ẩm mốc của gạch chịu lửa vỡ vụn. Hai người rón rén lách qua một cánh cửa gỗ mục bị cạy bung then.
Đúng lúc ấy, từ sâu thẳm trong góc gian nhà kho tối om như hũ nút, một luồng ánh sáng trắng lóa từ chiếc đèn bấm bất ngờ rọi thẳng ra, quét loang loáng qua khe ván gỗ mục nát, cắt ngang bầu không khí đặc quánh bụi bặm.
Tiếng xẻng sắt cào sột soạt vào lớp xỉ than cùng tiếng chửi thề the thé của bọn tay sai vọng lại trong bóng tối, báo hiệu cuộc chạy đua với thời gian của hai thầy trò chỉ còn tính bằng từng khắc ngắn ngủi.
