Cơn mưa rào đầu mùa dứt hạt nhanh như lúc nó kéo tới, để lại hơi ẩm nồng nặc bốc lên từ mặt ngõ hẻm còn sũng nước. Sau cái siết tay đầy thề hẹn giữa tiếng sấm rền, Phan Khắc Tiệp từ biệt Thái Đình Chương.
Anh dặn Trần Vĩnh Lộc theo sát chú Chương trên đường về, rồi một mình rảo bước thật nhanh về hướng Tòa Thượng thẩm Sài Gòn., rồi một mình rảo bước thật nhanh về hướng Tòa Thượng thẩm Sài Gòn.
Tòa nhà Tân cổ điển với những hàng cột tròn uy nghi sừng sững trên góc đường de La Grandière, tựa pháo đài quyền uy của nền tư pháp thuộc địa.
Chiếc cặp da thuộc kẹp chặt dưới nách, Tiệp không lên các phòng xử án tầng trên nơi quan tòa Pháp đang mở phiên xét xử, mà rẽ sang cánh tả, bước xuống dãy hành lang hun hút dẫn tới tầng hầm lưu trữ văn khố. Dưới chân cầu thang đá, không khí lạnh toát và quánh đặc mùi giấy ải cùng ẩm mốc.
Phía sau chiếc bàn con kê sát cửa sắt mắt cáo hoen gỉ, viên thư ký quản thủ văn khố trạc lục tuần đang ngái ngủ bên tách trà nguội ngắt.— Chào thầy ký, — Tiệp gật đầu nhã nhặn, rút tấm thẻ bài luật sư tập sự chìa ra trước mặt đối phương. — Tôi là luật sư Tiệp, bên văn phòng thầy L’vêque.
Tôi cần tra cứu vài bản án lệ hình sự và thương quyền in ấn cũ để chuẩn bị luận cứ bào chữa cho phiên tòa tới. Viên thư ký nheo mắt nhìn tấm thẻ bài có con dấu nổi của Tòa Thượng thẩm, ngáp dài một cái rồi uể oải nhấc chùm chìa khóa đồng nặng trịch:— Cứ tự nhiên. Nhưng chớ có làm xáo trộn thứ tự các ngăn.
Đèn hỏng mấy bóng ở dãy cuối chưa thay đâu đấy. Tôi lên phòng trên một lát, khi nào xong thì nhớ khép cửa lại. Cánh cửa sắt khép lại với tiếng ken két khô khốc, nhốt Tiệp vào một cõi tĩnh lặng đến rợn người.
Tầng hầm rộng thênh thang, trần vòm gạch thẻ bong tróc từng mảng vôi vữa, leo lét vài bóng đèn dây tóc vàng úa treo lơ lửng. Hàng chục dãy kệ gỗ tếch cao ngất gánh hàng ngàn hộp hồ sơ bọc bìa các-tông xám tro.
Lớp bụi mịn mười lăm năm đóng dày trên gờ gỗ, mùi nồng hắc của long não tẩy độc pha lẫn mùi mốc meo của giấy mục xộc thẳng vào cuống họng. Tiệp hít sâu một hơi để trấn tĩnh Tiệp hít sâu một hơi để trấn tĩnh lồng ngực đang dồn thít từng nhịp.. Anh lần theo các tấm thẻ bài bằng kẽm gắn ở đầu mỗi dãy kệ.
Chữ dập nổi bằng tiếng Pháp: "Dân sự", "Thương mại", rồi đến khu vực trong cùng: Affaires Politiques — Những vụ án chính trị. Đây là nơi chôn vùi số phận của biết bao chí sĩ, nhà báo và những người cùng khổ dám cất lên tiếng nói phản kháng.
Bụi bám vào từng ngón tay Tiệp ram ráp khi anh lần giở từng năm: 1918, 1919, rồi 1920.Năm 1920 — mốc thời gian khắc sâu vào tâm khảm Tiệp, năm cố ký giả Thái Đình Hoài bị đày ải và gia đình chú Chương tan nát.
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Ngón tay Tiệp dừng lại ở ngăn gỗ số bốn, dãy B. Một chiếc hộp các-tông dày cộp mang số hiệu AP-1920/414 hiện ra dưới ánh đèn mờ.
Trên nhãn dán ố vàng loang lổ vết nước mưa cũ, dòng chữ viết tay bằng mực tím của viên lục sự hiện rõ: “Affaire Thái Đình Hoài - Journal Tiếng Chuông Nam Kỳ - Distribution de tracts subversifs” (Vụ án Thái Đình Hoài - Báo Tiếng Chuông Nam Kỳ - Tán phát truyền đơn phản loạn).Trái tim Tiệp đập dồn dập.
Anh nâng chiếc hộp ra khỏi hộc kệ, nhẹ nhàng đặt lên chiếc bàn gỗ mọt kê ở góc chân cầu thang. Gạt lớp bụi xám bám trên mặt hộp, Tiệp tháo sợi dây đay mục nát.
Tập hồ sơ mở ra, phả luồng hơi lạnh của quá khứ: bản cáo trạng của Sở Mật thám, trát bắt giam có chữ ký của viên Tri phủ Tôn Thất Chiêu, và bản án lưu đày Côn Lôn do Tòa Đại hình phê chuẩn. Trong biên bản hỏi cung đầu tiên, nét bút khẳng khái của Thái Đình Hoài vẫn còn hằn sâu: “Tôi bị kẻ gian gài bẫy.
Tờ truyền đơn rải ở chợ Bến Thành không phải do xưởng in của tôi sản xuất.
Kiểu chữ và chất lượng in hoàn toàn khác biệt.”Tiệp cắn chặt môi, lật tiếp qua các biên bản lấy cung cho tới khi chạm vào một tập giấy bồi mỏng đính kèm con dấu triện đỏ chói: Bản tường trình giám định kỹ thuật chữ in số EX-78, do giám định viên kỹ thuật Sở Mật thám Catinat lập ngày 18 tháng Mười năm 1920.Tiệp kéo bóng đèn dây tóc lại gần hơn, ánh sáng vàng đục rọi thẳng vào những dòng đánh máy bằng tiếng Pháp.
Bản tường trình khẳng định: “Đối chiếu mẫu truyền đơn thu được tại chợ Bến Thành với bản mẫu chữ hoa tại xưởng in Tiếng Chuông Nam Kỳ, chúng tôi nhận thấy các con chữ hoa đều có cùng kích cỡ 18 pông.
Do đó, có đủ căn cứ khoa học để khẳng định truyền đơn phản loạn được in từ bộ chữ của bị can Thái Đình Hoài.”Tiệp lật sang trang phụ lục hình ảnh phía sau. Bức ảnh chụp phóng đại hai con chữ hoa “N” và “T” trên mẫu truyền đơn hiện lên rõ rệt.
Đúng như lời chú Chương đã chỉ ra sáng nay, ở mép chân con chữ có một góc vát lệch nghiêng bất thường. Nhưng điều khiến Tiệp rợn tóc gáy chính là phần chú thích ngay dưới bức ảnh. Dòng chữ đánh máy ban đầu đã bị cạo xóa thô bạo bằng lưỡi dao trổ.
Thớ giấy bồi bị cạo sâu đến mức gần như rách, để lại một vệt sần sùi màu trắng bệch. Tiệp ghé sát mắt, nghiêng trang giấy theo góc phản chiếu của ánh đèn.
Nhờ vết hằn sâu mà các phím máy chữ đã ép lên mặt sau tờ giấy bồi, anh chắp nối từng ký tự bị che giấu: “Remarque: Présence dun biseau anormal de 15 degrés au pied des caractères et dune fissure en forme dy sur le corps…”
(Ghi chú: Xuất hiện góc vát bất thường 15 độ ở chân chữ và vết rạn hình chữ y trên thân chữ…).Ngay phía trên vết cạo xóa ấy, ai đó đã dùng bút sắt chấm mực tím gạch chéo hai đường dứt khoát, kèm theo dòng chữ viết tay bằng tiếng Pháp: “Détail sans importance, non retenu sur ordre du Juge dinstruction” (Chi tiết không quan trọng, bỏ qua theo lệnh của Quan thẩm phán thẩm vấn).Bên cạnh dòng bút phê tàn nhẫn ấy là một chữ ký nháy ngoằn ngoèo, đóng đè lên một góc con triện son hình bầu dục mang dòng chữ: Tri phủ Tôn Thất Chiêu.
Máu nóng dồn thẳng lên thái dương Tiệp, làm hai bên mang tai anh ù đi. Mọi nghi vấn của chú Chương đã được chứng thực bằng giấy trắng mực đen! Mười lăm năm trước, chuyên viên kỹ thuật của Sở Mật thám đã phát hiện ra góc vát lệch trục 15 độ và vết rạn hình chữ y độc bản trên con chữ chì.
Đó là một khuyết tật cơ học quá lộ liễu, không một người làm nghề in nào có thể bỏ qua. Nhưng chính Tôn Thất Chiêu, bằng quyền lực thụ lý án chính trị khi ấy, đã cấu kết với viên thẩm phán thực dân ra lệnh cạo xóa chi tiết này khỏi hồ sơ!
Bởi vì Chiêu biết rõ: xưởng in Tiếng Chuông Nam Kỳ của Thái Đình Hoài sử dụng bộ chữ hoa 18 pông nhập khẩu từ Paris—những con chữ đúc máy phẳng phiu, chuẩn xác từng phần trăm ly tây, tuyệt đối không thể có vết lệch trục 15 độ của một cỗ máy đúc tay vụng về.
Nếu để chi tiết góc vát 15 độ lọt vào bản án, cuộc đối chất công khai trước tòa sẽ lập tức giải oan cho Hoài. Chiêu đã dùng quyền lực bóp nghẹt một chi tiết kỹ thuật then chốt để cướp đi sinh mạng một con người! Tiệp nén cơn phẫn uất đang cuộn trào trong dạ.
Thứ anh cần lúc này là sự lạnh lùng và chính xác tuyệt đối của một luật sư. Tiệp rút từ túi áo ngực ra cuốn sổ tay bìa da và cây bút máy Waterman. Cúi rạp trên mặt bàn mọt, ngòi bút của anh thoăn thoắt lướt trên trang giấy trắng.
Anh ghi chép tỉ mỉ từng chi tiết then chốt: mã hiệu hồ sơ AP-1920/414; số hiệu bản giám định EX-78; ngày lập văn bản; danh tính viên giám định viên Pháp; nguyên văn dòng chữ tiếng Pháp bị cạo xóa; và đặc biệt là nét vẽ phác lại chữ ký nháy cùng con triện son của Tôn Thất Chiêu đè lên mép vết cạo.
Từng con số, từng chữ cái được ghi lại như khắc sâu vào tâm trí. Đây chính là bằng chứng tố tụng không thể chối cãi về hành vi cố tình làm sai lệch hồ sơ tư pháp của viên Đốc phủ sứ tương lai.
Vừa ghi xong dòng cuối cùng, Tiệp còn chưa kịp thổi khô nét mực tím thì một chuỗi âm thanh bất thường từ phía cửa hầm vọng lại.“Cộp... cộp... cộp...”Tiếng bước chân nện xuống những bậc thang đá xoắn ốc.
Đó không phải là bước chân lê xỏ dép lẹp xẹp của viên thư ký già nghiện trà, mà là tiếng giày đinh sắt nện đanh gọn, dứt khoát và nặng nề—tiếng bước chân đặc trưng của những kẻ quen thừa hành mật lệnh trong bóng tối. Tiệp giật thót mình, tim thắt lại một nhịp.
Không một động tác thừa, Tiệp lập tức khép phắt cuốn sổ tay nhét sâu vào túi trong áo măng-tô. Anh luồn vội sợi dây đay buộc chặt tập hồ sơ, dùng vạt tay áo lau sạch dấu vết bụi xáo trộn trên mặt bàn, rồi nhanh thoăn thoắt nhét chiếc hộp các-tông trở lại hộc gỗ cũ trên kệ.
Bóng đen của một người đàn ông mặc âu phục sẫm màu, khoác áo bạt xám vừa đổ dài xuống những bậc thang đá cuối cùng. Tiệp đứng nép vào bóng tối giữa hai dãy kệ gỗ, sống lưng lạnh toát như ngâm trong nước đá. Mười lăm năm đã trôi qua — nhưng bóng tối trong văn khố này, anh bỗng chắc chắn, chưa bao giờ thật sự rỗng không.
