Hồi còi tuần cảnh buốt lạnh từ ngã tư đường dEspagne vẳng lại rồi chìm dần vào bóng đêm đặc quánh. Trong gian xưởng in Viễn Đông rộng thênh thang, tiếng quạt trần đã tắt từ lâu, chỉ còn lại sự tĩnh mịch ngột ngạt cùng mùi mực in dầu lanh và phôi chì quen thuộc.
Thái Đình Chương đứng chôn chân bên bàn thạch, ngực phập phồng kìm nén từng nhịp thở dồn. Mười hai con chữ hoa cỡ mười tám pông bằng hợp kim chì antimon vẫn nằm ngay ngắn trên máng gỗ.
Đi qua các ngả đường Sài Gòn đang trong giờ giới nghiêm với chiếc hộp nhung the nẹp đồng thau nặng trịch là điều khờ dại; chỉ cần một toán mã tà chận lại xét hỏi, mọi toan tính sẽ tan tành trước khi công lý kịp hé rạng. Đình Chương hít một hơi sâu, vươn tay lấy con lăn mực tay.
Ông thấm một lớp mực mỏng vừa đủ rồi lăn đều lên mặt mười hai con chữ chì. Đặt một dải giấy bồi chuyên dụng lên bề mặt kim loại, ông dùng thanh xương trâu miết kỹ từng góc cạnh để kéo một bản bông in thử sắc nét đến từng đường nét tế vi.
Chờ lớp mực vừa se mặt, Chương cẩn thận gấp tờ bản bông phẳng phiu, bọc kỹ trong lớp giấy dầu rồi nhét sâu vào túi trong của chiếc áo cánh sẫm màu. Ông xếp chiếc kính vi trắc bỏ túi cùng cây thước kẹp kim khí vào túi vải bên hông.
Mười hai con chữ nguyên mẫu được ông tỉ mỉ đặt lại vào từng ô nhung the, gài chặt then đồng rồi khóa kín trong ngăn kéo bàn thạch bằng chiếc chìa khóa riêng luôn mang theo bên mình. Rời xưởng bằng lối cửa nách, Chương sập then sắt ngoài, hòa mình vào làn sương ẩm lạnh của màn đêm Sài Gòn.
Đường phố lúc tàn canh khoác lên vẻ trầm mặc dưới những quầng sáng vàng vọt của đèn đường. Tiếng chuông xe điện đã tắt ngấm từ chập tối, chỉ thỉnh thoảng vọng lại tiếng lộc cộc rời rạc của một chiếc xe thổ mộ muộn màng qua dốc cầu sắt hướng về phía Chợ Lớn.
Đình Chương nép sát vào hàng hiên những dãy nhà buôn đã cài then đóng cửa, bước chân thoăn thoắt mà êm ru trên lớp đá dăm. Những ngõ hẻm quanh co dẫn ông dần rời xa khu phố Tây hào nhoáng, hướng về mé bến kênh Tàu Hủ—nơi mùi sình lầy ngai ngái và mùi khói than củi bốc lên đậm đặc, thân thuộc suốt mười lăm năm qua.
Căn gác xép của Chương nép mình dưới mái ngói âm dương rêu phong, lọt thỏm giữa xóm thợ thuyền nghèo nàn. Cầu thang gỗ ọp ẹp khẽ rên lên những tiếng cọt kẹt quen thuộc dưới sức nặng bước chân ông. Đẩy nhẹ cánh liếp nứa, Chương lách mình vào trong rồi lập tức cài chặt then gỗ mun.
Ông kéo tấm rèm vải thô che kín khung cửa sổ trông ra bến nước đen ngòm, không để lọt một tia sáng nào ra ngoài. Một tiếng “xẹt” khô khốc vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch. Ngọn diêm bùng cháy, phả ra mùi diêm sinh nhè nhẹ. Đình Chương châm lửa vào bấc ngọn đèn dầu hỏa đặt trên chiếc bàn gỗ tạp mộc mạc.
Ánh lửa hột vịt le lói nhảy múa, xua bớt cái giá lạnh và ẩm thấp của gian gác đơn sơ, soi rõ góc chõng tre cũ kỹ cùng bộ ấm chén sành mẻ miệng. Đình Chương đứng lặng vài giây, lắng tai nghe ngóng tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân cọc mé kênh và tiếng chó sủa vu vơ từ mé xóm bên kia. Không có bóng người rình rập.
Ông quỳ gối xuống sàn ván gỗ sao đã lên nước bóng ở góc tường sát chân bàn. Rút lưỡi dao trổ phôi chì sắc bén giắt ở thắt lưng, Chương cẩn thận lách mũi thép vào khe nứt giữa tấm ván sàn thứ ba tính từ vách liếp. Một tiếng “tách” trầm đục vang lên khi chốt gỗ ngầm bật mở.
Tấm ván được nhấc lên êm ru, để lộ một hộc ngầm sâu chừng hai gang tay nằm khuất giữa hai thanh dầm chịu lực. Từ đáy hộc ngầm phủ lớp bao tải gai khô ráo, Chương nâng ra một chiếc rương nhỏ đóng bằng gỗ mít già, bốn góc bọc thiếc đã hoen gỉ theo năm tháng.
Mười lăm năm qua, chiếc rương này là nơi dung chứa toàn bộ nỗi đau đớn và uất hận của đời ông. Đặt chiếc rương lên mặt bàn gỗ, Chương khẽ nâng nắp. Mùi long não thoang thoảng quyện cùng mùi bột giấy mục ngót hơn một thập kỷ bốc lên xộc vào sống mũi.
Bên trong rương chỉ có hai vật phẩm: một cuốn sổ tay nhỏ bìa da bò màu nâu sẫm đã sờn rách mép gáy, và một chiếc phong bì giấy bổi ố vàng mang dòng chữ viết vội bằng mực tím của Thái Đình Hoài. Những ngón tay thô ráp chai sần của Chương khẽ run lên khi rút tờ giấy bên trong phong bì ra.
Đó chính là tờ truyền đơn oan nghiệt mùa thu năm 1920. Dù đã qua mười lăm năm cất giữ trong bóng tối, chất giấy rơm thô nhám đã ngả sang sắc vàng úa như lá khô, nhưng những hàng chữ in đậm nét xúi giục bạo loạn vẫn hằn rõ sự tàn nhẫn của một âm mưu hãm hại đê hèn.
Đêm ấy, trước khi bị lính mã tà đạp đổ cửa tòa soạn “Tiếng Chuông Nam Kỳ”, Hoài chỉ kịp nhét vội bản in này vào tay anh trai cùng lời thề uất nghẹn: “Chữ này không phải của xưởng mình, anh Chương ơi!”Đình Chương nén nỗi xót xa xuống đáy lòng để nhường chỗ cho sự mẫn tiệp của một người thợ cả dày dạn phong trần.
Ông vuốt phẳng tờ truyền đơn năm 1920 lên mặt bàn, rồi rút tờ bản bông vừa kéo ở xưởng in Viễn Đông đặt sát bên cạnh.
Hai tờ giấy cách nhau đúng mười lăm năm: một bên là giấy rơm thô mộc của thời tao loạn ngập tràn máu và nước mắt; một bên là giấy bồi trắng láng mịn nhập cảng dành riêng cho chiến dịch tranh cử quyền quý của viên Đốc phủ sứ. Ông vặn bấc đèn dầu hỏa cao thêm nửa nấc, giữ cho ngọn lửa đứng thẳng, không tỏa khói.
Cầm chiếc kính vi trắc quang học bằng tay trái, tay phải cầm chiếc thước kẹp kim khí có thang chia độ chính xác đến từng phần mười ly tây, Chương cúi rạp người xuống, đưa thấu kính rà sát từng mặt chữ.
Dưới vòng thị kính phóng đại bốn mươi lần có khắc vòng cung góc độ và thang chia micromet, từng nét chữ hoa mười tám pông hiện lên sừng sững tựa những vách đá kim loại thu nhỏ. Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Đình Chương bắt đầu đo đạc góc vát chân chữ của ký tự hoa trên tờ truyền đơn cũ.
Vạch kính dừng lại ở chân nét sổ: một góc vát lệch trục nghiêng chếch đúng mười lăm độ về phía bên tả, để lại một gờ bavia sắc nhọn. Ông chuyển kính sang ký tự tương ứng trên bản bông tài liệu năm 1935 của Tôn Thất Chiêu. Vòng đo quang học trùng khít tuyệt đối: cũng góc lệch mười lăm độ, cũng gờ bavia khuyết tật ấy.
Chưa dừng lại ở đó, Chương hướng thấu kính vào gờ bụng con chữ. Một vết rạn tế vi hình chữ y ăn sâu vào gờ kim loại chì antimon hiện ra rõ mồn một. Trên tờ giấy rơm ố vàng năm 1920, vết rạn ấy để lại một đốm mực khuyết lõm nhỏ bằng đầu kim may.
Trên tờ giấy bồi năm 1935, vết rạn chữ y ấy tái hiện với độ dài, độ xiên và góc mở nhánh hoàn toàn trùng khớp đến từng micromet. Chương lật giở cuốn sổ tay bìa da bò.
Trong cuốn sổ ấy, mười lăm năm qua ông đã lặn lội qua hàng chục lò đúc chữ thủ công ở Chợ Lớn, Gia Định, Gò Vấp, ghi chép lại sai số của hơn hai trăm cỗ máy đúc rập đồng. Không một cỗ máy nào mang cặp khuyết tật kép quái đản này.
Mỗi hàm máy đúc chữ thủ công khi bị lệch trục sẽ mòn theo một góc duy nhất, tạo nên một vân tay kim loại độc nhất vô nhị.
Hai mẻ đúc, hai thời điểm cách nhau một phần tư đời người, nhưng cùng sinh ra từ một cỗ máy đúc tay rập đồng duy nhất mang khuôn phôi bị cong vênh—cỗ máy mà Tôn Thất Chiêu đã bí mật sử dụng để ngụy tạo bản án giết người không dao! Bàn tay Đình Chương ghì chặt lên mép bàn gỗ, các khớp ngón tay trắng bệch.
Sự thật đã được giải mã bằng chính chuyên môn của nghề in. Những con chữ chì tưởng như câm lặng suốt mười lăm năm qua nay đã cất lên tiếng nói tố cáo rành rọt bộ mặt thật của kẻ thủ ác. Một làn gió lạnh luồn qua kẽ liếp khiến ngọn đèn hột vịt chao đảo. Đình Chương ngẩng đầu nhìn về phía khung cửa sổ đóng kín.
Qua khe rèm mỏng, màn đêm Sài Gòn vẫn thâm u, lạnh lẽo và đầy rẫy hiểm nguy rình rập. Tôn Thất Chiêu nay không còn là viên tri phủ nhỏ nhoi năm nào, mà đã là Đốc phủ sứ quyền nghiêng một cõi, được chính quyền thuộc địa che chở, nắm trong tay mạng lưới mật thám và đám tay sai sẵn sàng nghiền nát mọi kẻ ngáng đường.
Chiếc ghế đại biểu Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ sắp sửa thuộc về tay hắn. Chương cúi nhìn đôi bàn tay mình—đôi bàn tay thô ráp, gân guốc, móng tay bám đầy muội than và mực in chì không bao giờ rửa sạch.
Vật chứng sắt đá đã nằm trọn trong tay, nhưng một người thợ in già còng lưng làm sao có thể đối đầu với viên Đốc phủ sứ quyền thế ngút trời?
