Thái Đình Chương ghìm chặt hai bàn tay chai sần xuống mặt bàn thạch lạnh buốt. Thanh li-nha bằng đồng sau cú rơi khẽ va vào chiếc nhíp thép rồi nằm im lìm bên mép khay chữ. Giữa gian xưởng mênh mông, tiếng kim loại va đập chát chúa lịm dần vào khoảng lặng buốt giá. Đình Chương nín thở lắng nghe.
Bên ngoài đường dEspagne, không gian tĩnh mịch rợn ngợp, chỉ có tiếng gió xào xạc qua tán me già và tiếng lách cách rời rạc của cỗ xe thổ mộ chạy muộn về Chợ Lớn. Tuyệt nhiên không có bước chân tuần tra của cai xưởng hay lính mã tà. Ông thở hắt ra, cúi người nhặt thanh li-nha đặt lại chỗ cũ.
Mặt kim loại lành lạnh chạm vào đầu ngón tay thô ráp, khơi dậy cảm giác nhức nhối từng ăn sâu vào tâm khảm. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn măng-sông, mười hai con chữ hoa cỡ mười tám pông bằng hợp kim chì antimon vẫn nằm lặng lẽ trên nền gỗ khay chữ.
Nhưng trong đôi mắt trũng sâu của người thợ cả, mặt bàn đá như nứt toác, mở ra vực sâu tăm tối của ký ức mười lăm năm trước. Mùa thu năm 1920. Sài Gòn năm ấy cũng chìm trong những trận mưa dầm dề từ chập tối tới tàn canh.
Tòa soạn báo “Tiếng Chuông Nam Kỳ” khi đó là căn nhà phố hẹp lợp ngói âm dương trong con hẻm đường Taberd, nơi ngọn đèn dầu thắp sáng thâu đêm bên những xấp bản thảo còn ướt mực và tiếng lách cách không ngớt của thợ sắp chữ. Em trai ông, Thái Đình Hoài, khi ấy vừa tròn hai mươi tám tuổi.
Chàng ký giả trẻ có vóc dáng mảnh khảnh của một thầy giáo trường làng bỏ bục giảng theo nghiệp bút mực, mang vầng trán cao và đôi mắt sáng kiên định sau cặp kính trắng.
Hoài không màng bổng lộc, chỉ một lòng tin rằng con chữ quốc ngữ và ngọn bút thẳng thắn có thể đánh thức lương tri đồng bào, soi rọi những bất công dưới chế độ thuộc địa.
Thời điểm đó, Tôn Thất Chiêu hãy còn là viên tri phủ khét tiếng mưu mô ở cửa ngõ Gia Định, luôn thèm khát chiếc ghế Đốc phủ sứ cùng đặc quyền bao thầu đất đai bến bãi.
Những bài phóng sự điều tra và xã luận sắc bén của Hoài trên báo “Tiếng Chuông Nam Kỳ” liên tục bóc trần những vụ cướp đoạt ruộng đất của nông dân nghèo vùng Hóc Môn, chỉ mặt điểm tên đám sâu mọt đục khoét dân lành.
Bị điểm trúng tim đen, Chiêu không dám tranh luận bằng ngòi bút mà ngấm ngầm chọn đòn hiểm độc: câu kết với thanh tra Mật thám Pháp tại Sở Catinat để dàn dựng một cái bẫy phản nghịch tày trời. Vào một sớm tinh sương tháng Mười buốt lạnh, hàng ngàn tờ truyền đơn bất ngờ rải trắng xóa khắp các ngả đường quanh chợ Bến Thành.
Tờ giấy mỏng manh in những lời lẽ kích động bạo loạn dữ dội, kêu gọi lật đổ chính quyền thuộc địa.
Ngay dòng tiêu đề lớn trên đầu mỗi trang truyền đơn đều được in bằng những con chữ hoa cỡ mười tám pông sắc sảo nhưng mang một tật nguyền cơ học kỳ lạ: mép chân chữ bị vát xiên một góc mười lăm độ và gờ kim loại có vết rạn nứt nhỏ xíu nhô lên. Trời chưa kịp rạng, tiếng bốt đinh gõ rầm rập xé toạc sự yên bình của con hẻm nhỏ.
Lính mã tà bồng súng tuốt lưỡi lê, dẫn đầu bởi lính kín Sở Mật thám và tay chân thân tín của Tri phủ Tôn Thất Chiêu, đạp tung cánh cửa gỗ tòa soạn. Giữa gian phòng nồng nặc mùi mực in dầu lanh, xấp truyền đơn ướt sũng bùn đất bị ném thẳng xuống bàn trước mặt Đình Hoài.
Tôn Thất Chiêu xuất hiện ngay sau lưng viên thanh tra người Pháp, khoác bộ âu phục lanh trắng láng coóng, ngón tay đeo nhẫn ngọc bích khẽ vuốt hàng ria mép tỉa chuốt, cất giọng the thé tuyên đọc lệnh bắt giam kẻ chủ mưu xúi giục loạn lạc.
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Đình Hoài đứng sững, hai cổ tay lập tức bị khóa chặt trong chiếc cùm sắt lạnh toát. Chàng ký giả trẻ không hề nao núng, khẳng khái nhìn thẳng vào mặt kẻ vu oan, vạch rõ rằng kiểu chữ hoa trên tờ truyền đơn chưa từng có mặt trong bất kỳ hộp chữ nào của tòa soạn.
Nhưng giữa thời buổi công lý bị bóp nghẹt, lời lẽ của người cầm bút chỉ đổi lại những cú thúc báng súng thô bạo vào mạng sườn. Tiếng thét xé lòng của mẹ già từ gian buồng trong dội ra. Bà cụ hớt hải lao tới ôm chặt lấy chân con trai, mái tóc bạc xõa xượi, vừa khóc vừa van lạy viên tri phủ rủ lòng thương xót.
Đáp lại tấm lòng người mẹ chỉ là cái gạt tay phũ phàng cùng lời đe dọa lạnh lùng của đám sai nha. Đình Chương lao vào che chắn cho mẹ và em trai liền bị báng súng nện thẳng vào bả vai ngã dúi dụi xuống sàn gạch. Họ lôi Đình Hoài đi giữa cơn mưa rào tầm tã.
Tiếng xích sắt lê trên thềm đá hòa cùng tiếng khóc ngất của người mẹ già như những nhát dao cứa nát tâm can Đình Chương. Cú sốc quá lớn khiến mẹ già ngã quỵ. Bà lên cơn sốt mê man trên chiếc chõng tre ọp ẹp, chốc chốc lại giật mình gọi tên đứa con út.
Đúng hai tuần sau đêm định mệnh, mẹ trút hơi thở cuối cùng trong nỗi uất ức ngút trời, đôi mắt đục mờ mở trừng trừng nhìn lên nóc nhà dột nát như muốn đòi lại lẽ phải ở chốn nhân gian. Đình Chương phải tự tay vuốt mắt cho mẹ, quỳ bên manh chiếu rách cắn chặt môi đến bật máu để nuốt ngược từng giọt nước mắt mặn chát vào lòng.
Nỗi oan khuất chưa dừng lại ở đó. Mùa đông năm 1920, bản án lưu đày biệt xứ tại Côn Lôn được chính quyền thuộc địa ký duyệt vội vã mà không hề có phiên xét xử công khai. Đình Hoài bị đày ra hải đảo xa xôi.
Chưa đầy một năm sau, một người bạn tù được ân xá lén tìm về Sài Gòn, trao tận tay Đình Chương mảnh giấy bao thuốc lá nhàu nát mang dòng tin sét đánh: Hoài đã hy sinh trong hầm đá ngục Côn Đảo sau những trận đòn tra khảo dã man và căn bệnh sốt rét rừng buốt xương, khi mới bước sang tuổi hai mươi tám.
Mất mẹ, mất em, gia đình tan nát chỉ sau một cái búng tay của quyền lực áp chế. Trong những đêm dài tăm tối bên bờ kênh Tàu Hủ, Đình Chương từng nghĩ đến việc cầm một con dao nhọn hay tìm mua khẩu súng sáu để liều mạng với Tôn Thất Chiêu.
Nhưng nhìn nắm tro tàn của mẹ và di vật ít ỏi của Hoài, ông hiểu rằng bạo lực mù quáng chỉ khiến ông gục ngã trước họng súng thực dân, còn vết nhơ phản nghịch gán lên thanh danh em trai sẽ vĩnh viễn không được gột rửa. Kẻ thủ ác phải đền tội trước pháp luật và công luận, bằng chính thứ bằng chứng mà hắn đã dày công ngụy tạo.
Từ một người phụ trách kỹ thuật cho tờ báo, Thái Đình Chương chấp nhận giấu kín danh tính, cắn răng làm thợ quèn suốt mười lăm năm ròng rã. Ông luân chuyển qua từng xưởng in, lân la tới từng lò đúc chữ ở khắp vùng Sài Gòn, Chợ Lớn.
Đêm đêm, dưới ngọn đèn dầu le lói trong căn gác xép, ông cặm cụi ghi chép lại từng sai số micromet, từng góc vát, từng khuyết tật kim loại của hàng trăm bộ khuôn chữ chì vào cuốn sổ tay nhỏ.
Ông cất giữ tờ truyền đơn năm xưa dưới lớp ván sàn bí mật, kiên nhẫn chờ đợi dấu vết của cỗ máy đúc tay rập đồng đã tạo ra mẻ chữ oan nghiệt ấy.
Mười lăm năm nén hận, tưởng chừng như mò kim đáy bể, không ngờ đêm nay kẻ thủ ác lại tự tay mang dấu vết ấy đặt lên bàn thạch của ông.“Tò… te… rúc!”Một hồi còi tuần cảnh bất ngờ rúc lên lanh lảnh từ ngã tư đường dEspagne cắt ngang đại lộ Bonard.
Tiếng còi kim loại sắc nhọn xé toạc màn sương đêm, dội qua chấn song sắt xưởng in rồi đập thẳng vào tai Đình Chương, giật phắt ông ra khỏi dòng hồi ức đau đớn. Đình Chương khẽ rùng mình, ánh mắt lập tức lấy lại vẻ sắc lạnh như dao trổ phôi chì.
Thời gian không còn nhiều, hạn chót ba ngày cho đơn hàng mười ngàn bản đang treo lơ lửng trên đầu. Tôn Thất Chiêu muốn dùng bộ chữ này để bước l*n đ*nh cao danh vọng, nhưng chính những con chữ chì này sẽ là chiếc thòng lọng siết chặt cổ hắn. Ông nhìn trân trân vào mười hai con chữ hoa trên khay gỗ.
Ông phải lập tức trở về căn gác xép, lấy tờ truyền đơn năm 1920 ra để đối chiếu trực tiếp từng micromet sai số, làm sáng tỏ mối liên hệ rợn người giữa mẻ đúc mười lăm năm trước và tập tài liệu hiện tại trước khi trời hửng sáng.
