Lời đe dọa của Tôn Thất Chiêu tựa như một luồng gió độc xộc thẳng vào gian phòng khách lộng lẫy, nhưng Thái Đình Chương vẫn đứng sừng sững, không lùi nửa bước.
Cái tên Thái Đình Hoài thốt ra từ miệng kẻ thủ ác khiến lồng ngực ông nhói buốt như có dằm xước, song tia nhìn của người thợ cả vẫn phẳng lặng như mặt giếng không gợn sóng.
Chương chậm rãi chỉnh lại vạt áo bà ba, giọng trầm đục mà đanh thép: — Hầm đá Côn Lôn có thể chôn vùi thân xác người ngay thẳng, nhưng không nghiền nát được sự thật, thưa quan Đốc phủ. Chữ chì đúc ra đời nào thì mang dấu tích đời ấy, dẫu quan có dìm nó xuống đáy sông hay vùi sâu trong đống xỉ than, nó vẫn sẽ tự cất tiếng.
Nói đoạn, ông khẽ cúi đầu theo đúng phép tắc rồi dứt khoát quay lưng bước ra ngoài, mặc cho tiếng thở phì phò căm hận của Chiêu cùng tiếng đập bàn chát chúa vang lên sau lưng. Chiêu dẫu lồng lộn như thú dữ trúng tên nhưng chưa dám hạ thủ ngay tại tư dinh trước đêm bầu cử.
Ra khỏi cánh cổng sắt đồ sộ trên đường Barbé, người tài xế toan nổ máy chiếc xe bóng lộn để chở ông về, nhưng Chương xua tay từ chối. Ông rảo bước vào bóng tối nhập nhoạng của hàng cây sao đen, luồn qua mấy ngõ ngách ngoằn ngoèo ven bờ rạch Cầu Quan để cắt đứt mọi ánh mắt dòm ngó, rồi nhắm thẳng hướng bến đò Khánh Hội mà đi.
Đêm Sài Gòn càng về khuya càng đặc quánh hơi lạnh. Gió từ sông thổi thốc vào bến đò Khánh Hội, mang theo mùi sình lầy nồng nàn quyện với hương dầu rái ngai ngái từ những mạn thuyền chở hàng. Dưới bóng râm của gốc bàng cổ thụ ven bờ, hai bóng người trùm áo tơi sẫm màu vội vã bước ra đón ông.— Chú Chương!
Chú bình an là may quá rồi! Tiếng Phan Khắc Tiệp khẽ reo lên sau gọng kính đồi mồi, giọng run rẩy vì lo lắng. Bên cạnh, Trần Vĩnh Lộc siết chặt quai chiếc bao tải vải gai mang bên hông, đôi mắt sáng quắc cảnh giác nhìn quanh quất.
Đình Chương khẽ gật đầu, đưa mắt dò hỏi: — Tình hình bên tòa soạn Đuốc Lập Dân ra sao rồi thầy Tiệp? Vẻ mặt vị luật sư trẻ chùng xuống, hàm răng cắn chặt: — Không xong rồi chú. Đúng như chú dự liệu, tay chân của Chiêu cùng mật thám Catinat đã đánh hơi thấy động tĩnh.
Hơn một giờ trước, hai chiếc xe cam-nhông chở đầy lính mã tà đã ập đến phong tỏa kín hai đầu hẻm đường Paul Blanchy. Anh Ký Giác chỉ kịp cho người mật báo ra ngoài: toàn bộ máy in dẹp trong xưởng báo đã bị niêm phong dây thép, nội bất xuất ngoại bất nhập.
Nếu chúng ta cố vận hành máy in ở đó, cả nhóm sẽ bị bắt trọn ổ trước khi tờ báo đầu tiên kịp khô mực. Lộc sốt ruột chêm vào, giọng ráng nén thật nhỏ: — Thầy ơi, vậy mười ngàn bản phụ trương tính sao đây thầy? Đêm mai là tiệc tuyển cử ở rạp Moderne rồi! Chương vẫn giữ vẻ trầm tĩnh vốn có.
Bàn tay gầy guộc của ông khẽ vỗ lên vai người học trò: — Chớ hoảng. Ký Giác là người từng trải phong ba đất Gia Định, anh ấy không để mình bị dồn vào ngõ cụt đâu. Tiệp gật đầu tán thành, khẽ chỉ tay về phía hạ lưu con rạch: — Phải đó Lộc. Anh Giác đã kịp thu xếp nhờ anh em nghiệp đoàn thợ in độc lập.
Một chiếc ghe tam bản chở dừa kiên cố đang đợi chúng ta ở khúc rẽ rạch Bến Nghé hướng ra sông lớn. Mọi đồ nghề cần thiết đã được chuyển xuống khoang ghe an toàn.
Không chậm trễ nửa khắc, ba người rảo bước men theo con đường đất nhầy nhụa bùn lầy của bến bãi, luồn sâu vào một ngách rạch kín đáo, nơi những rặng dừa nước mọc ken dày che khuất tầm nhìn từ phố xá. Chiếc ghe tam bản dài hơn năm trượng nằm im lìm dưới vòm lá dừa rậm rạp.
Trên mui ghe, từng buồng dừa khô được chất cao nghểu ngụy trang kín mít như một thuyền buôn miệt vườn từ Bến Tre sang.
Vừa thấy bóng ba người, hai người thợ in già thuộc nghiệp đoàn—thợ Sáu Đen và thợ Ba Dụng—liền khẽ tách lá dừa, chìa tay kéo họ xuống sàn thuyền.— Chú Chương xuống lẹ, con nước đang lớn, nhưng chừng tàn canh là nước ròng rút ra sông cái—thợ Sáu thì thầm, giọng rặt Nam Bộ.Chương bước vào lòng khoang ghe.
Dưới mái sạp ván thấp lè tè, không gian chật chội sực nức mùi gỗ ướt, mạt kim loại và dầu lanh nồng hắc. Chiếc máy ép tay cỡ nhỏ bằng gang đúc—thứ bảo bối của giới thợ in lưu động—được chằng néo cẩn mật vào xà thuyền để chống lắc.
Cạnh đó là phiến bàn thạch đá hoa cương nhẵn thín đặt trên hai bao cát giảm chấn, cùng mấy kiện giấy bồi trắng bọc kín trong hai lớp vải dầu chống ẩm. Đình Chương đón lấy chiếc túi vải gai từ tay Lộc, cẩn trọng mở ra rồi trân trọng đặt chiếc hộp nhung chứa mười hai con chữ hoa mười tám pông nguyên bản lên mặt bàn thạch.
Dưới ánh sáng tù mù, những con chữ bằng hợp kim chì antimon ánh lên sắc xám lạnh lùng.— Đủ cả rồi. Nay sống chết của tờ phụ trương nằm trọn trên chiếc ghe này—Chương trầm giọng nói với Lộc và Tiệp.
Thợ Ba Dụng châm ngọn đèn bão, cẩn thận phủ thêm một lớp vải sẫm màu bên ngoài để ánh sáng chỉ gom tụ lại một quầng tròn quanh bàn thạch, tuyệt đối không hắt qua khe lá dừa ra mặt rạch. Không gian trong khoang ghe căng như dây đàn, chỉ có tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền và tiếng thở dồn dập của những người thợ.
Thái Đình Chương ngồi xếp bằng trên chiếu cói. Những ngón tay chai sần, sạm đen vì mực in của ông bắt đầu chuyển động thoăn thoắt nhưng chuẩn xác đến từng ly tây. Ông gắp thanh li-nha, nhặt từng con chữ chì nhỏ li ti xếp thành từng hàng chữ ngay ngắn.
Từng dòng văn sắc sảo do Phan Khắc Tiệp chấp bút và Bùi Duy Giác nhuận sắc dần dần hiện hình trên khuôn: từ bản án ngụy tạo năm 1920, cái chết thương tâm của Thái Đình Hoài nơi hầm đá Côn Lôn, cho đến những số liệu về góc vát mười lăm độ và vết nứt chữ y được phơi bày rành rọt.
Đến dòng tựa đề lớn đầu trang, Đình Chương nín thở, cẩn trọng đặt mười hai con chữ hoa mười tám pông mang vết khuyết tật độc bản vào vị trí trung tâm.
Bằng kinh nghiệm mấy mươi năm nghề in, ông dùng búa gỗ gõ nhẹ lên miếng gỗ đệm để mặt chữ nằm phẳng lì tuyệt đối trên mặt bàn thạch, không một con nào bị kênh dù chỉ một phần mười ly tây.— Lộc, tra mực! — Chương khẽ ra lệnh. Trần Vĩnh Lộc lập tức cầm con lăn cao su nhúng vào khay mực dầu lanh đen nhánh.
Đôi tay chàng trai trẻ lăn đi lăn lại nhịp nhàng trên mặt con chữ kim loại, tiếng mực kêu tanh tách nhỏ giọt như tiếng mưa đêm rỉ rả. Lớp mực phủ đều tăm tắp, đen óng và mịn màng như nhung. Phan Khắc Tiệp đứng nép bên cạnh, khéo léo dùng nhíp kẹp đặt từng tờ giấy bồi trắng muốt vào khuôn giữ.
Chiếc cần gạt bằng gang của máy ép tay được hai người thợ già cùng Lộc chung sức ghì xuống. Tiếng cơ khí kẽo kẹt trầm đục vang lên giữa lòng ghe khi cần gạt ghì xuống nhát ép đầu tiên, mở màn cho cuộc chạy đua nghẹt thở với bóng tối để chuẩn bị mẻ in mười ngàn bản phụ trương trước lúc bình minh. Đêm dần trôi về sáng.
Tiếng nước chảy róc rách dưới đáy lườn ghe báo hiệu con nước ròng bắt đầu rút mạnh, cuốn dòng nước đục ngầu cuồn cuộn đổ ra sông Sài Gòn mênh mông. Chương đón lấy bản bông đầu tiên vừa bóc ra khỏi bàn ép, đưa thấu kính phóng đại lên sát mắt.
Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bão che vải, dòng chữ in hiện lên sắc nét, đen nhánh và đanh gọn. Đặc biệt, ở góc chân của những con chữ hoa mười tám pông, góc vát lệch trục mười lăm độ cùng vết rạn chân chim hình chữ y in hằn rõ mồn một trên thớ giấy bồi—chứng cứ thép không thể chối cãi để buộc tội kẻ vu oan.
Khóe mắt người thợ cả chợt ươn ướt. Mười lăm năm nhẫn nhục, mười lăm năm nén hận, cuối cùng hình hài của công lý cũng đã hiện rõ trên trang giấy trắng. Nhưng niềm xúc động chưa kịp lắng xuống thì chiếc ghe tam bản bỗng chao nghiêng dữ dội theo từng đợt sóng dồn từ ngoài luồng nước cái dội vào.— Cẩn thận giữ khuôn!
— thợ Sáu Đen thất thanh gọi khẽ. Từ ngoài mặt sông lớn, tiếng động cơ ca-nô giòn giã bỗng gầm lên xé toạc màn sương đêm tĩnh mịch.
Một luồng đèn pha cực mạnh từ chiếc ca-nô tuần tiễu của Sở Mật thám rà quét loang loáng ngang qua ngọn rặng dừa nước, chùm sáng trắng lạnh quét sạt qua nóc mui ghe, hắt những vệt sáng run rẩy vào tận khe ván khoang thuyền... Đọc thêm nhiều Truyện Full tại:
