Thái Đình Chương hít một hơi dài, nén luồng khí lạnh buốt xộc vào lồng ngực. Thanh li-nha trên tay ông từ từ hạ xuống, gõ nhịp khô khốc lên thành khay gỗ. Ông không nhìn người học trò đang tái mặt, giọng nói qua kẽ răng trầm đặc và đanh lại:— Đứng thẳng người dậy. Lấy giẻ lau mực trên bàn thạch, không được để lộ vẻ bồn chồn.
Tai mắt của Ký Biểu vẫn có thể dòm ngó từ ngoài rào. Trần Vĩnh Lộc giật mình, vội dùng giẻ tẩm dầu lanh chà mạnh lên mặt đá, hai vai vẫn khẽ run:— Thầy Chương… bây giờ tính sao thầy?
Bọn chúng đem mười tên phu với hai cỗ xe lớn tới cào sạch bãi xỉ, đổ hết xuống rạch thì mất hết dấu vết…— Chiêu muốn xóa dấu vết trước tiệc cử tri, tức là y đã chột dạ, — Chương ngắt lời, mắt nhìn ra tán me đường dEspagne đang sẫm lại trong hoàng hôn. — Chúng định nửa đêm ra tay, ta phải đến trước chúng một khắc.
Tan ca, con cứ về xóm thợ như thường lệ. Kiếm một chiếc đèn bão bọc vải sẫm, một bao tải giẻ và cái xẻng ngắn cán. Đúng mười một giờ đêm, đón tôi ở chân cầu Mống. Nhớ kỹ, không để ai bám theo sau lưng.— Dạ, con nhớ rồi. Chuông Nhà thờ Đức Bà điểm mười một tiếng chậm rãi, chìm vào màn sương ẩm dâng lên từ sông Sài Gòn.
Ven rạch Bến Nghé đổ ra kênh Tàu Hủ về đêm vắng ngắt, chỉ còn tiếng nước vỗ bì bõm vào bè mục và mùi bùn lầy nồng nặc bốc lên từ lòng kênh cạn. Thái Đình Chương trong bộ bà ba đen bạc màu, nón lá sụp nửa mặt, nép mình dưới rặng dừa nước rậm rạp.
Chốc lát sau, Lộc thoăn thoắt lội sình bước tới, vai mang bao tải thô lách cách tiếng kim loại.— Đồ nghề đủ cả chứ con? — Chương khẽ hỏi.— Dạ đủ, đèn bão bọc vải đen, que sắt với xẻng ngắn đều ở trong bao, thưa thầy.— Tốt. Bám mép rạch mà đi. Tránh xa mặt đường đá, giày đinh tuần cảnh gõ rất rát.
Hai thầy trò trườn đi trong bóng tối mịt mùng. Bùn lầy ven kênh Tàu Hủ dính nhớp nháp dưới chân trần. Kho phế liệu sắt vụn Dépôt de Ferraille hiện ra phía trước với những bức tường ván mục và hàng rào kẽm gai xiêu vẹo, câm lặng dưới sương đêm. Chương dừng lại trước góc rào bị xé toạc, nơi bụi cỏ gai che kín lối mòn cũ.
Lắng tai không thấy tiếng xe ngựa hay bước chân người, ông khẽ bảo:— Lách vào lối này. Đi nhẹ chân, coi chừng tôn rỉ cứa rách da. Cả hai chui qua khe hở vách ván sau kho, lọt vào bên trong. Mùi rỉ sắt quyện với mùi xỉ than lưu cữu mười lăm năm xộc vào sống mũi. Không gian tối đen như mực.
Chương nép vào góc cột lim mục, ra hiệu cho Lộc châm đèn bão. Đốm lửa bùng lên, bị lớp vải thô sẫm màu ghìm lại, chỉ tỏa ra quầng sáng vàng đục vừa đủ soi khoảng đất ẩm dưới chân. Chương rút cuốn sổ tay bìa da bò trong túi áo. Dưới ánh sáng mờ, ông lật trang giấy ố vàng vẽ sơ đồ gian kho của bác thợ Ba Thuận quá cố.
Ngón tay chai sần rà theo nét mực tàu:— Bác Ba Thuận ghi rõ: góc chái tây nam, cách bệ lò gạch ba bước chân về phía tường, dưới hộc chứa xỉ than thải. Năm ấy Chiêu sợ lộ nên rập xong mẻ chữ chì, y ép bác Ba tháo rời khuôn phôi đồng mang vết rạn, ném xuống hộc xỉ rồi đổ gạch vụn lấp lên.— Chỗ này đây thầy!
— Lộc chỉ vào gò đất đen trùi trũi phủ đầy vụn gạch chịu lửa và những tảng xỉ than đông kết.— Đào nhanh nhưng không gây tiếng động, — Chương dặn, cắm sâu que sắt nhọn xuống lớp xỉ. Thời gian như ngưng đọng trong gian kho ngột ngạt. Hai thầy trò quỳ trên nền đất lạnh, dùng xẻng ngắn và que sắt cạy từng tảng xỉ đen quánh.
Đất xỉ lâu năm kết chặt với vôi vữa, cứng như đá hộc. Mười đầu ngón tay Chương rát buốt, bùn than và mạt sắt chui vào kẽ móng nhức nhối, nhưng ông không dừng lại. Từng xẻng xỉ được bới lên, Lộc cẩn thận bóp vụn, rà soát từng mẩu cứng rồi gạt sang bên. Mồ hôi túa ra trên trán hai người, nhỏ tong tỏng xuống tro xỉ.
Hơn một giờ trôi qua trong im lặng. Lớp xỉ than bị đào sâu gần hai gang tay, lộ ra lớp đất sét vàng ẩm ướt. Lộc th* d*c, hai tay run lẩy bẩy:— Thầy ơi… sâu tới đất thịt rồi mà chẳng thấy gì ngoài xỉ vụn với đinh rỉ… Hay Ký Biểu đã cho người dời đi rồi?— Chưa đâu, — Chương trầm giọng, ánh mắt kiên định.
— Khuôn phôi đồng rất nặng, nếu bị ném xuống hộc than đang nóng thì sức nặng sẽ khiến nó chìm sâu vào lớp đất sét. Đào chếch sang phải nửa thước nữa! Lộc cắn môi, đưa mũi xẻng xắn mạnh sang mép hố bên phải.“Keng!”Tiếng kim loại trầm đục vang lên dưới đáy hố, dội vào vách kho vắng. Cả hai cùng khựng lại.
Tim Chương thắt lại một nhịp. Ông xua tay bảo Lộc bỏ xẻng xuống rồi đích thân quỳ rạp, dùng hai bàn tay trần gạt phăng lớp đất sét nhão nhoét. Ngón tay trỏ chai sần chạm phải góc cạnh vuông vức, đanh cứng và lạnh ngắt. Ông bấu mười đầu ngón tay nạy mạnh, nhấc khối kim loại nặng trịch lên khỏi lòng hố.
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Đó là một khối phôi bằng đồng đỏ đặc, dài chừng một tấc, nặng trĩu tay, bề mặt ngả màu xanh rêu của lớp ten đồng phong hóa qua mười lăm năm chôn vùi. Chương run run đưa khối kim loại lại gần ngọn đèn bão. Dùng vạt áo bà ba lau sạch bùn đất trong rãnh rập, ông nín thở nhìn vào lòng khuôn.
Dưới ánh sáng le lói, cấu trúc chiếc khuôn phôi đồng rập tay hiện lên rõ mồn một: tại mép chân con chữ hoa, hàm thép định vị đã nứt toác, tạo thành góc vát lệch trục nghiêng đúng mười lăm độ; và dọc theo gờ rãnh bụng chữ, vết rạn vi thể hình chữ y in hằn sâu hoắm vào thớ đồng đỏ—dấu vết cơ học do cú đập búa lệch tâm của cỗ lò đúc dã chiến năm Canh Thân.
Chương khẽ rùng mình, lồng ngực cuộn lên từng đợt sóng buốt nhức. Mười lăm năm ròng rã, mẹ già uất ức qua đời, em trai Thái Đình Hoài ôm hận dưới mồ đá Côn Lôn… Mọi nỗi oan khiên đều bắt nguồn từ chính khối đồng lạnh ngắt này!— Đúng là nó rồi… Thầy ơi, đúng là chiếc khuôn phôi năm xưa rồi! — Lộc thì thào, khóe mắt hoe đỏ.
Chương chưa kịp đáp lời thì ngoài bến rạch, tiếng sủa dữ dội của bầy chó săn xé toạc màn đêm. Tiếng bánh xe lớn nghiến rào rạo trên đá dăm cùng tiếng chân người dồn dập kéo tới. Ánh đuốc bập bùng quét loang loáng qua khe ván kho mục nát. Giọng the thé của Ký Biểu rít lên từ cổng chính:— Mau chân lên lũ bay!
Đem xẻng sắt với cuốc bàn vào san phẳng bãi xỉ than cho tao! Quan Đốc phủ dặn rồi, xúc sạch đổ hết xuống lòng kênh, không để sót một mẩu sắt vụn nào trước khi trời sáng! Tiếng lính mã tà quát tháo cùng bước chân phu phen rầm rập tràn vào cổng rào.— Thổi đèn! — Chương hạ lệnh dứt khoát.
Lộc phẩy tay dập tắt ngọn đèn bão trong chớp mắt. Gian kho lập tức chìm vào bóng tối mịt mùng. Chương nhét chiếc khuôn phôi đồng vào sâu trong bao tải giẻ rách, buộc chặt túm miệng bao rồi trao cho Lộc:— Đeo chéo bao qua vai, quấn chặt vào ngực. Bám sát tôi, luồn ra lỗ vách sau. Tuyệt đối không được hoảng loạn!
Nhờ thông thuộc địa hình bến bãi, Chương dắt Lộc khom lưng trườn qua khe vách ván phía sau kho ngay khi toán phu phen vung cuốc tràn vào cửa trước. Tiếng kim loại va đập chan chát của bọn tay sai át đi tiếng bước chân trượt trên bùn lầy của hai thầy trò.
Cả hai lách mình xuống mép nước đen ngòm, men theo rặng dừa nước rậm rạp. Đợi toán lính tuần cảnh cầm đuốc đi qua đầu cầu ván, Chương và Lộc nhanh chóng vọt lên bờ đê, rẽ ngoắt vào những ngõ hẻm ngoằn ngoèo, tăm tối của xóm thợ Chợ Lớn.
Những lối ngách chằng chịt, lúp xúp mái hiên nhanh chóng nuốt chửng bóng dáng hai người, cắt đứt hoàn toàn sự truy lùng phía sau. Gần tàn canh, tiếng ồn ào hỗn tạp nơi bến kênh Tàu Hủ đã lùi xa tít tắp. Dưới bóng gốc me già đầu ngõ vắng ăn thông ra đường dEspagne, gió đêm phả lại hơi lạnh ẩm trong lành.
Dặn Lộc cẩn thận rẽ về xóm thợ an toàn, Thái Đình Chương đón lấy chiếc bao tải giẻ từ tay người học trò rồi dừng bước, hai bàn tay thô ráp ghì chặt khối kim loại trước ngực. Sức nặng đanh thép của khối phôi đồng đỏ áp sát vào da thịt ông qua lớp vải thô, truyền đi cảm giác rực cháy và vững chãi đến lạ kỳ.
Khi bóng tối ngõ hẻm lùi lại phía sau, Chương ôm chặt chiếc phôi đồng trước ngực, biết rằng mắt xích vật chất tối quan trọng để vạch trần kẻ vu oan đã hoàn toàn thuộc về tay mình.
