Lực chém bạt mạng hất tung nửa đoạn đoản đao còn lại trên tay gã thích khách. Hắn thất kinh lùi lại ba bước, bàn tay tê dại vì chấn động dữ dội. Từ bóng tối dày đặc của rặng duối ven đường mòn, hai bóng đen khác lập tức rút đao nhảy chồm ra toan khép thế gọng kìm tấn công. Nhưng người vừa vung gươm không cho bọn chúng cơ hội ra tay.
Thân hình cao lớn của Đỗ Thiết sừng sững chắn trước Mai Doãn Khiêm như bức tường thép. Tấm giáp da sẫm màu căng chặt trên v*m ng*c rộng, vết sẹo dài bên gò má trái giật nhẹ dưới ánh mắt sắc lạnh như mắt chim ưng.
Không một lời thừa thãi, y xoay cổ tay, lưỡi trường gươm chém phạt một đường vòng cung rít gió, tiện đứt phăng cành duối to bằng bắp tay bay sạt qua đỉnh đầu toán sát thủ.— Lũ chuột nhắt họ Trần! — Tiếng quát của Đỗ Thiết trầm hùng như sấm lệnh nơi chiến trận.
— Quân hiệu cấm quân ở đây, đứa nào muốn bỏ mạng dưới lưỡi thép này thì bước lên! Nhận ra đốc binh thiện chiến của quân lộ Tam Đái, toán thích khách lạnh gáy khựng lại. Uy danh cấm quân khiến bọn chúng kinh hồn bạt vía.
Gã bịt mặt cầm đầu nghiến răng ra hiệu cho đồng bọn, cả ba thoăn thoắt lộn người lủi sâu vào bãi lau sậy ven sông, chớp mắt đã mất hút trong màn sương đêm. Mai Doãn Khiêm lúc này mới thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực vơi đi cảm giác nghẹt thở. Ông chỉnh lại vạt áo chàm, tiến lên một bước:— Đa tạ Đỗ đệ!
Nếu không có đường gươm vừa rồi của đệ, Khiêm mỗ e rằng đã phải phơi xác trên bờ cỏ này. Đỗ Thiết tra gươm vào vỏ bằng một động tác dứt khoát phát ra tiếng “tách” khô khốc. Y quay lại nhìn khắp người Khiêm một lượt để chắc chắn vị quan văn không hề hấn gì, rồi trầm giọng thở dài:— Huynh quá mạo hiểm rồi, Khiêm huynh!
Trần Bá Cửu là con rắn độc đất Tam Đái. Thấy huynh một mình bước vào trang trại họ Trần, đệ không thể an lòng ngồi yên ở doanh trại nên đã âm thầm bám theo hộ vệ. Thấy bạc trắng không lay chuyển được huynh, chúng ắt hạ độc thủ để bịt miệng. Huynh giữ mạng này là vì năm vạn phu dịch, sao lại khinh suất dấn thân vào hang cọp như vậy?
Doãn Khiêm khẽ lắc đầu, ánh mắt lộ vẻ đanh thép:— Không vào hang cọp sao bắt được cọp con? Nếu không đích thân tới sào huyệt của hắn, làm sao ta tận mắt chứng kiến thủ đoạn tày trời của chúng! Nghe vậy, Đỗ Thiết chau mày:— Huynh đã phát hiện ra điều gì?— Bến đậu riêng của họ Trần cách đây nửa dặm có bốn chiếc thuyền tải lớn.
— Doãn Khiêm hạ thấp giọng, câu chữ gằn từng tiếng rành rọt. — Ta tận mắt thấy gia nhân Bá Cửu độn hàng trăm bao cát xốp và bùn nhão xuống tận đáy khoang thuyền, rồi chỉ rải một lớp đá hộc mỏng tang lên trên mặt ván.
Mớn nước thuyền tải vẫn chìm sâu như chở nặng ngàn cân, nhưng thực chất hai ngàn hộc đá nén móng đã bị biến thành cát bở! Bàn tay Đỗ Thiết siết chặt chuôi gươm đến mức khớp xương kêu răng rắc. Vết sẹo bên má y giật phồng lên vì phẫn nộ tột cùng:— Quân khốn nạn! Đá hộc là xương tủy của chân đê quai vạc.
Nếu dưới đáy sông chỉ toàn cát xốp, mùa lũ lớn tháng Bảy ập về, sóng cuồng vỗ vào thì ba mươi dặm đê non sẽ sụp đổ trong nháy mắt! Đệ lập tức dẫn toán quân lộ ập vào bắt trọn ổ bến thuyền của chúng!— Chớ manh động! — Doãn Khiêm vội đưa tay ngăn lại. — Đánh rắn phải đánh dập đầu.
Đằng sau Trần Bá Cửu là Chánh sứ Lê Khắc Hoàn và cả mạng lưới tham quan ngầm ở kinh kỳ. Không có chứng cứ xác thực về việc móng đê bị tráo vật tư dưới đáy sông, chúng ta bắt người lúc này chỉ khiến bọn chúng phi tang tang vật và vu vạ cho quân lính lộng quyền.
Ta cần phải nắm chắc hiện trạng chân móng ngay trong đêm nay.— Nhưng dòng sông đêm tối mịt mùng, biết tìm ai dò được đáy nước sâu? — Đỗ Thiết ngần ngại.— Có một người làm được. — Khiêm nhìn về hướng bãi lều tranh ven sông. — Lão phu trưởng Bá Giáp.
Lão trượng sinh ra từ đầu sóng ngọn gió, hiểu đáy sông Lãng Điền hơn bất kỳ ai.*Canh ba. Đêm lạnh buốt như cắt da thịt. Sương mù từ mặt sông Nhị Hà bốc lên cuồn cuộn, biến dải đê quai vạc chập chùng thành một vệt mờ ảo trong bóng đêm tịch mịch. Dưới bến Lãng Điền, một chiếc thuyền nan nhỏ chòng chành rẽ nước trôi ra giữa lòng sông.
Trên thuyền, lão phu trưởng Bá Giáp quấn manh khố chàm ướt sũng, hai cánh tay gân guốc thoăn thoắt khua mái chèo gỗ êm ru không phát ra tiếng động. Ngồi ở khoang giữa, Mai Doãn Khiêm khoác áo tơi cẩn thận giữ chiếc tráp đựng thước dọi đo góc nước và địa đồ da dê.
Phía mũi thuyền, Đỗ Thiết đứng sừng sững, tay cầm chắc cây sào sắt dài hai trượng dùng để rà soát lòng sông.— Phó sứ đại nhân, quân hiệu, xin hai ngài ngồi vững. — Bá Giáp khẽ thì thào, giọng khàn đặc vì ngấm sương lạnh. — Đoạn này nước chảy xiết và quẩn lắm.
Phía trước là bãi cọc cừ đóng ngầm dưới mặt nước ba thước, sơ sẩy một chút là thủng ván thuyền ngay. Chiếc thuyền nan luồn lách uyển chuyển tựa chiếc lá tre giữa làn sương giăng. Gió bấc thốc từng cơn lạnh buốt rát mặt, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền nghe ùng ục ghê người.
Bá Giáp cắm mũi sào tre vào một bờ đá chìm để giữ thuyền đứng yên giữa dòng nước xiết, rồi chỉ tay về phía sườn đê bến Lãng Điền:— Đại nhân nhìn làn bọt nước xoáy tít đằng kia xem. Chỗ đó là bụng chửa của khúc cua Lãng Điền. Ban ngày nhìn mặt nước phẳng lặng, nhưng bên dưới đáy sâu ba trượng có một mắt xoáy ngầm cực kỳ hung tợn.
Nước từ thượng nguồn dồn về gặp dải bồi uốn cong liền thúc thẳng vào chân vạc, ngày đêm âm thầm khoét rỗng sườn đê từ bên trong. Mai Doãn Khiêm cúi sát người xuống mép thuyền, mắt nhìn chăm chú vào luồng bọt trắng xóa đang cuộn xoáy tít ngược dòng.
Ông nâng thước quy bằng gỗ lim đo độ nghiêng của dòng chảy, gương mặt chữ điền đanh lại đầy ưu tư:— Quả đúng như ta đã tính toán trên bản đồ. Luồng xoáy ngầm này như mũi khoan khoét sâu vào lòng đất.
Nếu chân móng đê được nén chặt bằng ba lớp đá hộc gối đầu lên nhau theo đúng điển chế triều đình, đá tảng sẽ bẻ gãy lực xói của dòng nước. Nhưng nếu dưới chân móng thiếu đá...— Để đệ thử xem rốt cuộc bọn sâu mọt đã chôn thứ gì dưới đó! — Đỗ Thiết nghiến răng cắt ngang.
Viên võ quan vươn người ra mép mũi thuyền nan, dùng cả hai cánh tay cuồn cuộn cơ bắp dựng đứng cây sào sắt nặng trịch rồi phóng thẳng xuống làn nước sâu thẳm đen ngòm buốt giá. Cây sào sắt dài hai trượng chìm ngập dần trong lòng sông, xuyên qua tầng nước xiết rồi chạm mạnh vào chân móng đê phía dưới.
Đỗ Thiết gồng mình ấn mạnh hai tay, vết sẹo dài bên má trái co rút lại. Nhưng điều mà y và Doãn Khiêm lo sợ nhất đã xảy ra. Mũi sào sắt không hề va vào đá tảng để phát ra tiếng “ken két” chát chúa của đá hộc miền núi. Thay vào đó, thân sào lún sâu xuống một cách trơn tuột, dễ dàng như đâm vào một bọc mỡ nhầy nhụa!
Đỗ Thiết dồn hết sức bình sinh lắc mạnh thân sào, nhưng bên dưới chỉ là một mớ lùng bùng xôm xốp, không có lấy một tấc đá tảng nén giữ.— Chết tiệt! — Đỗ Thiết nghiến răng chửi thề, hai tay kéo phắt cây sào sắt lên khỏi mặt nước.
Dưới ánh đèn lồng le lói treo nơi mũi thuyền, Mai Doãn Khiêm run rẩy đưa bàn tay chạm vào đầu mũi sào sắt. Trên lớp kim loại xám đen không có vết trầy xước của đá, mà bám đầy một lớp bùn nhão vàng quánh trộn lẫn cát xốp hạt mịn đang rỉ nước tong tỏng!
Bá Giáp nhìn thấy lớp cát bở trên mũi sào, đôi mắt đục mờ bỗng trợn trừng, hai bờ vai gầy guộc run bần bật:— Trời cao đất dày ơi! Chân móng đê quai vạc bến Lãng Điền... rỗng toác cả rồi! Toàn là cát xốp với bùn non thế này thì chỉ cần một cơn lũ nhỏ quét qua, cả ba mươi dặm đê sẽ tan thành bọt nước!
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Mai Doãn Khiêm siết chặt nắm cát nhão, nước bùn tanh nồng rỉ qua kẽ dải vải băng bó thấm xót buốt vào vết rách nơi lòng bàn tay, nhỏ tong tỏng xuống mặt sông.
Nỗi phẫn nộ dâng trào nghẹn ứ nơi cổ họng ông:— Năm vạn phu phen đổ mồ hôi sôi nước mắt, triều đình xuất bạc kho cứu vạn mẫu ruộng bờ xôi ruộng mật... Vậy mà lũ sâu mọt dám khoét rỗng nền móng giang sơn! Đúng lúc ấy, dòng sông bỗng rung chuyển nhẹ.
Một âm thanh lục bục kỳ quái từ đáy nước sâu dội lên mạn thuyền nan mỗi lúc một dồn dập. Bá Giáp biến sắc, vội vàng quỳ sụp xuống lòng thuyền, áp sát tai vào lớp ván gỗ mỏng để lắng nghe tiếng chuyển động dưới đáy sông sâu. Chỉ trong chớp mắt, khuôn mặt nhăn nheo của lão phu trưởng tái ngắt như không còn giọt máu.
Lão ngẩng đầu lên, run rẩy thất thanh:— Phó sứ đại nhân! Nguy rồi... Mạch nước ngầm dưới chân móng đê chính đã bục vỡ, đang đùn cát lên dữ dội rồi!
