Hoàng hôn buông xuống bến Lãng Điền, nhuộm một màu đỏ quạch như máu lên mặt nước sông Nhị Hà đang cuồn cuộn sóng dữ. Gió từ thượng du thổi về từng cơn lạnh buốt, mang theo hơi nước ngai ngái mùi phù sa nồng đậm.
Bất chấp sự can ngăn đầy âu lo của con trai Mai Tấn và ánh mắt hừng hực lửa giận của Đỗ Thiết nơi trại phu dịch, Mai Doãn Khiêm vẫn một mình chỉnh lại vạt áo chàm thô, dấn bước về phía trang trại của Trần Bá Cửu nằm ở hạ lưu.
Dưới bóng chiều chập choạng, cơ ngơi nguy nga của gã hào cường họ Trần hiện ra sừng sững như một pháo đài biệt lập giữa chốn điền dã châu thổ. Tường gạch bao quanh cao hơn trượng, cổng lớn đóng bằng gỗ lim dày cắm đinh đồng sáng choang, hai bên treo lồng đèn lụa đỏ đung đưa trong gió bấc.
Cảnh tượng tráng lệ, vương giả ấy đối lập tột cùng với hàng ngàn mái lều tranh rách nát, bùn lầy nước đọng của năm vạn phu phen cách đó chưa đầy ba dặm đường sông. Khiêm vừa dừng chân trước bậc tam cấp bằng đá xanh, cánh cổng gỗ nặng nề đã ken két mở rộng.
Hai hàng gia đinh lực lưỡng bận áo cộc đen, tay lăm lăm côn đồng cúi gập đầu làm bộ cung kính, dẫn đường cho viên Phó sứ tiến vào chính sảnh. Bên trong đại sảnh, mùi gỗ mới và hương trầm ngào ngạt xua tan hoàn toàn vị tanh tao của bùn nước bến sông.
Trần Bá Cửu ngồi sẵn trên chiếc sập gụ khảm ốc xà cừ tinh xảo, ngón tay cái lấp lánh chiếc nhẫn ngọc bích lớn. Thấy Khiêm bước vào, gã vội vàng chống gối đứng dậy, khuôn mặt gãy với đôi mắt lươn ti hí nheo lại thành một nụ cười niềm nở tột bậc, hai tay chắp lại vái dài:— Ôi chao, quý hóa quá!
Mai Phó sứ đại giá quang lâm, hàn xá của thảo dân thật có phúc lớn ngút trời! Mau, lũ bay đâu, dâng trà sen và rượu quý lên hầu quan lớn!
Bá Cửu phất tay áo lụa, lập tức kẻ hầu người hạ bưng lên bàn tiệc ê hề những món sơn hào hải vị: cá anh vũ nướng than hoa, thịt hoẵng xào măng đắng, xôi nếp cái hoa vàng ngào mỡ gà cùng vò rượu nếp hạ thổ thơm nức.
Sau bức bình phong tơ tằm thêu hoa mẫu đơn, tiếng đàn tranh và đàn tỳ bà du dương cất lên, hòa cùng giọng ca lả lướt của đám đào nương nhằm ru ngủ tâm trí viên quan vừa tới. Khiêm bình thản ngồi xuống chiếc ghế đối diện.
Ông không hề đụng đũa vào mâm cỗ béo ngậy, chỉ nâng chén sứ men lam nhấp một ngụm trà sen thanh đạm, ánh mắt điềm tĩnh soi thẳng vào từng nét mặt giả tạo của gã hào cường bốn mươi tám tuổi:— Trần trang chủ nhọc lòng bày vẽ thế này, e rằng Khiêm này không dám nhận.
Triều đình phái ta tới Tam Đái để cùng quân dân giữ vững ba mươi dặm đê huyết mạch trước ngày rằm tháng Bảy. Lòng nước đang sôi sục ngoài bến sông, tính mạng vạn dân treo trên sợi tóc, ta đâu có tâm trí ngồi thưởng nguyệt nghe đàn.
Trần Bá Cửu cười xòa, vuốt chòm râu dê lưa thưa, ánh mắt lấp loáng vẻ giảo hoạt:— Đại nhân quả là bậc thanh liêm mẫu mực, thảo dân muôn phần kính phục! Nhưng thưa ngài, đời người sống chốn quan trường, bổng lộc triều đình ban phát rốt cuộc cũng chỉ đủ nuôi thân.
Ngài hà tất phải ăn gió nằm sương, ngâm chân dưới bùn tanh cho hao mòn thân xác? Nước sông Nhị Hà đục ngầu, nhưng dưới đáy sâu đâu thiếu gì của quý. Dứt lời, Bá Cửu khẽ búng tay một tiếng giòn giã. Một tên gia bộc thân tín khép nép bước ra, hai tay kính cẩn dâng lên một chiếc tráp bằng gỗ đàn hương chạm trổ hoa văn tinh xảo.
Nắp tráp bật mở, tỏa ra mùi hương gỗ thơm nồng cùng ánh sáng lóa mắt phản chiếu từ bên trong.
Ba mươi thoi bạc trắng tinh khiết, mỗi thoi nặng mười lạng, được xếp ngay ngắn thành từng lớp phẳng phiu, ánh bạc lạnh ngắt lấp lánh dưới ánh đèn lồng.— Đây chỉ là chút lễ mọn thảo dân kính biếu đại nhân tẩy trần sau chặng đường dài từ kinh sư tới lộ Tam Đái.
— Bá Cửu đẩy chiếc tráp sang trước mặt Khiêm, hạ thấp giọng thì thào, mang đầy vẻ dụ dỗ. — Đại nhân nắm quyền coi sóc việc đê điều, mỗi chuyến thuyền chở đá hộc từ mỏ núi Tam Đảo về bến, chỉ xin ngài nới tay đôi chút khi gõ thước kiểm định.
Nước sông đang mùa cuộn xiết, phu đá trên núi khan hiếm, đôi khi lẫn chút đá non, đá vụn cũng là lẽ thường tình nơi sông nước. Ngài mở một mắt, nhắm một mắt cho thuyền dỡ hàng, thì mỗi tuần trăng, thảo dân xin gửi đều đặn đến bản phủ hai tráp bạc như thế này để ngài lo liệu việc gia đạo. Mai Doãn Khiêm cúi nhìn tráp bạc sáng lóa.
Ánh kim loại lạnh lẽo phản chiếu đôi mắt kiên nghị của người nho sĩ bốn mươi hai tuổi.
Ông nhớ tới đôi bàn tay bật móng rỉ máu của mình dưới hố bùn sạt lở hôm trước, nhớ tới những chiếc cọc tre mục ruỗng quét bùn đen pha dầu thông, và nhớ tới hình ảnh hàng vạn phu dịch đang run rẩy gồng mình trong manh áo tơi rách nát ngoài bãi sông.
Từng lời nói ngọt nhạt của Bá Cửu như những mũi gai sắc nhọn đâm vào lòng tự trọng và khí tiết của ông. Không một thoáng ngập ngừng, Khiêm vươn bàn tay gân guốc quấn vải thô sập mạnh nắp tráp gỗ đàn hương.
Tiếng "cạch" đanh gọn vang lên giữa gian sảnh tĩnh mịch, cắt đứt hoàn toàn tiếng tơ đồng réo rắt sau bức bình phong.— Trần trang chủ! — Giọng Khiêm vang lên đĩnh đạc, trầm hùng và sắc lạnh tựa thép nung. — Ngươi có biết hình luật triều Trần đối với tội gian lận vật tư hộ đê được định đoạt ra sao chăng?
Nụ cười trên khuôn mặt gãy của Bá Cửu thoáng cứng đờ. Gã khẽ nhíu mày:— Đại nhân...— Thái sư Trần Thủ Độ và đương kim Hoàng thượng đã ban sắc lệnh rõ ràng: Đê quai vạc là quốc sách sinh tử, bảo vệ bờ cõi và mùa màng châu thổ.
Kẻ nào dám bòn rút ngân lượng quốc khố, tráo đá móng bằng bùn cát, coi rẻ sinh mạng của năm vạn phu phen, tội ấy sánh ngang với mưu phản hại nước! Hình luật triều đình định rõ: trảm quyết thị chúng, tịch biên toàn bộ gia sản sung công! Khiêm đứng bật dậy, tà áo chàm phần phật lay động.
Ánh mắt ông đanh thép nhìn xoáy vào mắt đối phương:— Ba mươi thoi bạc này của ngươi không phải đào từ lòng đất, mà đúc từ mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của bách tính châu thổ! Mai Doãn Khiêm này thà vùi thây nơi bờ lũy, quyết không nuốt một đồng tiền nhơ bẩn để phản bội triều đình, làm điều táng tận lương tâm!
Cả sảnh đường rơi vào một khoảng lặng chết chóc. Nụ cười giả lả trên mặt Trần Bá Cửu hoàn toàn biến mất, thay vào đó là vẻ dữ tợn bộc lộ tr*n tr**. Đôi mắt lươn ti hí của gã co giật liên hồi, hàm răng nghiến chặt ken két.
Gã vung tay hất đổ chén rượu quý trên bàn, nước rượu đỏ tràn ra mặt sập tựa như một vũng máu tươi:— Mai Doãn Khiêm! Ngươi đừng tưởng khoác cái áo Phó sứ của triều đình là có thể muốn làm gì thì làm ở dải đất Tam Đái này! Nước sông Nhị Hà sâu lắm, đá ngầm nhiều vô kể. Kẻ cứng đầu quá thường gãy sớm.
Ngươi đi đêm coi chừng sẩy chân rớt xuống hốc xoáy, đến cái xác cũng chẳng còn nguyên vẹn mà mang về kinh thành đâu! Khiêm lạnh lùng đáp trả:— Người ngay không sợ bóng tà, kẻ gieo mầm ác mới đáng lo cho cái cổ của mình. Lời của trang chủ, Khiêm mỗ xin ghi nhớ!
Dứt lời, ông dứt khoát xoay người, sải bước dài rời khỏi sảnh đường nguy nga, không thèm ngoái nhìn lại một lần.*Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Màn đêm đã bao trùm lấy khúc sông Lãng Điền. Ánh trăng non đầu tháng mờ ảo lúc ẩn lúc hiện sau những rặng mây xám xịt. Gió sông thổi thốc vào mặt mang theo hơi ẩm lạnh buốt thấu da thịt.
Rời khỏi cổng trang trại họ Trần, Khiêm không đi ngay theo lối mòn chính dẫn về trại lính mà men theo bờ đê phụ thoai thoải hướng ra mép nước phía hạ lưu. Dưới bóng rậm của rặng tre gai ven sông, ông bỗng nghe thấy những tiếng th* d*c nặng nhọc và tiếng bì bõm kỳ lạ phát ra từ bến đậu riêng của trang trại.
Khiêm nép mình sau một gốc duối cổ thụ, nheo mắt quan sát dưới ánh trăng bàng bạc. Cách bờ chừng mươi trượng, bốn chiếc thuyền tải lớn đang neo sát mép nước.
Dưới ánh đuốc le lói cắm nơi mũi thuyền, từng toán gia nhân lực lưỡng của Bá Cửu m*nh tr*n trùng trục đang hối hả chuyển những bao tải gai căng phồng từ trên xe kéo xuống lòng khoang. Nhờ mắt nhìn tinh tường của người đo đạc địa dư, Khiêm lập tức nhận ra điều bất thường.
Những bao tải đó không hề có góc cạnh gồ ghề của đá hộc miền núi. Khi một gã gia đinh lỡ tay làm rách mép bao, thứ trào ra mép ván thuyền không phải đá tảng, mà là cát xốp màu vàng nhạt trộn lẫn bùn non khô khốc!
Bọn chúng đang bí mật chuyển hàng trăm bao cát xốp giấu kín xuống tận đáy khoang thuyền, rồi chỉ phủ một lớp đá hộc mỏng tang lên trên mặt ván để đánh lừa quân lính kiểm tra độ chìm mớn nước của thuyền tải.
Bằng thủ đoạn đê hèn ấy, số lượng đá hộc thực tế bị hao hụt hàng ngàn hộc, trong khi mớn nước của đoàn thuyền vẫn lút sâu như chở đầy đá nặng. Hai bàn tay Khiêm siết chặt vào thân cây duối xù xì, lồng ngực phập phồng vì căm phẫn tột cùng:— Độc ác thay! Chúng dùng cát xốp để đầm chân vạc, sóng lũ ập về ắt tan thành bọt nước!
Hiểu rõ chân tướng sự việc, Khiêm cẩn trọng lùi bước, quay trở lại con đường mòn phủ đầy bóng cây rậm rạp để mau chóng về trại bàn bạc cùng Đỗ Thiết. Gió đêm bỗng dưng lặng ngắt một cách khác thường.
Mùi bùn ngái nồng nặc ven sông dường như bị lấn át bởi một luồng sát khí lạnh lẽo rợn người."Xào xạc!"Ngay khi Khiêm bước qua một bụi rậm um tùm cách cổng trang trại chừng nửa dặm, một bóng đen trùm kín mặt bất thần lao vút ra như mãnh thú vồ mồi! Ánh thép lóe lên xé toạc màn đêm u tối.
Một lưỡi đoản đao sắc nhọn mang theo tiếng gió rít rợn gáy, đâm thẳng vào lồng ngực Mai Doãn Khiêm với tốc độ kinh hồn! Khoảng cách quá gần, hiểm nguy cận kề trong gang tấc! Giữa khoảnh khắc sinh tử nghẹt thở, một tiếng thét xé gió rền vang từ tán cây rậm rạp bên cạnh:— Súc sinh! Dừng tay!"Keng!
Rắc!"Một đường gươm sáng lóa tựa tia chớp rạch ngang bóng tối. Lưỡi thép nặng ngàn cân vung lên chuẩn xác tuyệt đối, chém thẳng vào thân đoản đao của tên thích khách khiến thanh hung khí gãy đôi thành hai đoạn, mảnh vụn tóe lửa văng găm ngập vào thân cây bên đường!
