— Dừng tay! Tiếng quát của Mai Doãn Khiêm vang lên đanh thép như tiếng chuông lệnh xé màn mưa phùn, khiến ngọn roi mây tra móc sắt của gã hào đinh cầm đầu đang vung lưng chừng bỗng khựng lại. Gã hào đinh mặt sẹo ngoảnh phắt lại, trừng đôi mắt vằn đỏ, gằn giọng: — Kẻ nào to gan dám xía vào chuyện xe đá của Trần trang chủ?
Muốn rã xương theo lão già này à?Khiêm sải bước đạp bùn tiến thẳng vào vòng sáng bập bùng của ánh đuốc. Chiếc thước tầm bằng gỗ lim kẹp chặt bên sườn, áo chàm lấm lem nhưng phong thái đĩnh đạc khiến đám tay sai thoáng chùn chân.
Mai Tấn theo sát phía sau, giơ cao ngọn đèn giấy dầu soi rõ tấm ngọc bài ngạch quan văn gài bên hông cha.— Bản quan là Hà đê Phó sứ Mai Doãn Khiêm! — Giọng Khiêm rền vang giữa bãi sông. — Trước mặt bản quan, kẻ nào dám đem hình luật tư gia ra đánh đập dân phu của triều đình?
Đê quai vạc là quốc kế quân vương, sinh mạng tráng đinh thuộc quyền nha sứ cai quản, ai cho phép các ngươi lộng hành sát hại mạng người giữa chốn công trường? Nghe danh “Hà đê Phó sứ”, gã mặt sẹo biến sắc.
Thấy tấm ngọc bài cùng khẩu khí đanh thép của vị mệnh quan mang sắc chỉ ngự ban, gã hào đinh thoáng chột dạ, dẫu cậy thế chủ nhân sau lưng cũng không dám công khai làm càn. Hắn hạ ngọn roi sắt, cười nhạt buông một câu xấc xược: — Hóa ra là Mai đại nhân.
Đám tiểu nhân vâng lệnh tải đá đắp đê, lão già này lóng ngóng làm đổ vỡ sọt tre cản trở lối đi nên mới răn dạy đôi chút. Đã có đại nhân che chở, chuyến này coi như lão mạng lớn!
Nói đoạn, gã vẫy tay ra hiệu cho đồng bọn thúc xe đá lộc cộc lăn bánh qua vũng bùn lầy, để lại những vệt bánh xe hằn sâu hoắm và mùi tanh nồng của bùn đất. Khiêm không buồn liếc nhìn bóng lũ lâu la khuất sau màn mưa. Ông quỳ một chân xuống bùn nhão, chẳng màng vạt áo sũng nước, vội vã đỡ lão phu dậy.
Tấm lưng trần còng rạp của lão chằng chịt những lằn roi rách da tướm máu, hơi thở đứt quãng như ngọn đèn cạn dầu trước gió.— Lão trượng, người thế nào rồi? Mau gượng dậy! — Khiêm ân cần ghé vai đỡ, tay ấn nhẹ vào huyệt đạo bên cổ tay lão.
Lão phu mở đôi mắt đục mờ vì sương gió, ngỡ ngàng nhìn vạt áo quan lấm bùn đang ôm lấy thân thể dơ bẩn của mình. Lão run rẩy định sụp lạy: — Quan nhân... người là bậc tôn quý... bùn đất dơ bẩn... già này không dám...— Bách tính đổ mồ hôi xương máu vì giang sơn, sao lại gọi là dơ bẩn?
— Khiêm nghiêm giọng cắt lời, ánh mắt chan chứa xót thương. — Tấn nhi, mau lấy túi thuốc bột trong tráp ra rịt vết thương cho lão trượng. Sau khi rịt thuốc và băng bó bằng dải vải sạch, Khiêm mới biết lão tên là Bá Giáp, phu trưởng dẫn đầu cánh thợ đá vùng bến Lãng Điền.
Lão vì đỡ cho một tráng đinh trẻ tuổi khỏi bánh xe đá chở quá tải của nhà họ Trần mà bị đám tay sai quây đánh tàn độc. Đêm ấy trôi qua trong tiếng gió sông gầm thét từng chập. Khi vầng đông vừa rạng ở chân trời, sương mù trắng xóa từ lòng Nhị Hà bốc lên che phủ cả dãy lều tranh rách nát.
Tiếng tù và rúc lên từng hồi giục giã, báo hiệu giờ lao dịch bắt đầu. Bá Giáp dù mình mẩy ê ẩm vẫn gắng gượng chống gậy tre dẫn Mai Doãn Khiêm ra khu bếp ăn dã chiến của công trường. Khiêm muốn tận mắt thấy cuộc sống của năm vạn con người trước khi bước vào công việc đào đắp gian truân.
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Cảnh tượng trước mắt khiến ruột gan Khiêm quặn thắt. Bên cạnh ba chiếc chảo gang khổng lồ kê trên gạch nung nghi ngút khói ẩm, hàng trăm phu dịch gầy trơ xương, mặt mày hốc hác, tay run rẩy bưng những chiếc bát sứt sẹo xếp hàng rồng rắn.
Gió bấc thổi thốc từng cơn rét buốt, nhưng trên người họ chỉ có manh áo tơi xơ xác hoặc chiếc khố rách che thân. Người phụ trách múc cháo tay cầm chiếc gáo dừa dài ngoằng, khuấy đều thứ nước nhờ nhờ như nước cống rồi múc vào từng chiếc bát. Khiêm bước tới gần, mùi chua nồng và ẩm mốc lập tức xộc vào mũi.
Ông thò tay đón lấy một bát cháo từ một tráng đinh vừa nhận phần. Trong bát chỉ toàn là nước loãng lõng bõng, lơ thơ vài hạt gạo tấm đen sạm bị sâu mọt đục rỗng ruột cùng đọt bèo tấm, rau muống dại băm nhỏ nổi lềnh bềnh.
Một bát cháo như thế này, đến gia súc còn khó nuốt trôi, làm sao có thể nuôi dưỡng sức lực cho những đôi vai ngày ngày vác hàng trăm cân đất đá chống chọi cuồng lưu?— Triều đình ban chiếu, mỗi ngày mỗi phu dịch được cấp hai bát cơm gạo đỏ đầy cùng chút cá khô muối mặn để cầm sức hộ đê.
— Giọng Khiêm run lên vì kìm nén cơn giận dữ tột cùng. — Bát cháo này... là thứ để người ăn sao? Bá Giáp thở dài sườn sượt, khóe mắt già nua ứa ra giọt lệ đục: — Bẩm quan nhân, từ ngày khởi công đến nay, chưa một ai thấy mặt hạt gạo đỏ của triều đình.
Bát cháo cầm hơi này còn lẫn cả trấu và cát sạn, ai nuốt vội là trầy cả cuống họng. Phu phen chết vì kiệt sức, vì ngã bệnh dưới chân đê còn nhiều hơn số người bị trượt chân rơi xuống sông Nhị Hà...— Phường sâu mọt hại nước hại dân! Mai Doãn Khiêm siết chặt nắm tay đến mức móng găm vào lòng bàn tay ứa máu.
Ông không chần chừ, lập tức quay ngoắt người, sải những bước dài đầy thịnh nộ hướng thẳng về phía kho lương dã chiến đặt tại hậu doanh. Mai Tấn vội vã bám gót theo cha. Kho lương là một dãy nhà gỗ lợp lá cọ rộng lớn, có rào tre vây kín.
Bên trong, một viên lại dịch béo tốt, mặc áo the xanh láng mỡ, đang ngả ngớn trên chiếc chõng tre nhấm nháp lạc rang uống rượu sớm. Thấy bóng quan Phó sứ đằng đằng sát khí xông vào, hắn giật thót mình, vội vàng buông chén rượu, lồm cồm bò dậy vòng tay thi lễ: — Tiểu nhân bái kiến Phó sứ đại nhân!
Ngài hạ cố tới chốn ẩm thấp này sớm thế, chẳng hay có điều chi chỉ giáo? Khiêm ném mạnh bát cháo thiu xuống mặt bàn gỗ, nước cháo chua lòm bắn tung tóe vào vạt áo the của viên lại dịch: — Ngươi mở to mắt ra mà nhìn xem đây là thứ gì!
Gạo thơm, lương khô triều đình cấp phát cho năm vạn phu phen hộ đê đi đằng nào, mà ngoài kia dân phu chỉ được húp nước bèo mục này?
Viên lại dịch toát mồ hôi hột, nhưng dường như đã quen thói trơn tuột chốn cửa quyền, hắn nhanh chóng lấy lại vẻ mặt sầu não, giãi bày đầy vẻ oan ức: — Xin đại nhân bớt giận, thấu suốt cho nỗi khó của tiểu nhân!
Thuyền lương của triều đình từ Thăng Long ngược dòng lên, đến khúc ngã ba Bạch Hạc thì vướng bãi cạn phù sa, mấy ngày nay chưa thể cập bến. Chánh sứ đại nhân thương tình phu dịch đói lòng, mới lệnh cho tiểu nhân tạm thời vay trước số thóc lưu kho từ năm ngoái của các trang trại lân cận để nấu cháo cầm cự qua ngày.
Nào ngờ thóc cũ để lâu ẩm ướt sinh mọt... chứ tiểu nhân nào dám bớt xén nửa hạt thóc của công khố! Lời lẽ trơn tru, dối trá không chớp mắt. Nhưng Khiêm vốn am tường sổ sách điền địa, từng định ngạch chi thu của triều đình ông đều thuộc nằm lòng, làm sao dễ bị lừa gạt bởi mấy câu xảo ngôn ấy.
Đúng lúc ấy, từ góc tối sâu hun hút phía sau dãy kệ gỗ trữ lương, tiếng bước chân vội vã của Mai Tấn vang lên: — Cha! Mau vào đây xem! Khiêm lập tức rảo bước về phía gian kho phụ. Dưới những tấm phên nứa và bạt gai phủ kín, hàng trăm bao tải xếp tầng tầng lớp lớp cao đến tận xà nhà.
Tấn rút con dao nhỏ rạch một đường dài trên một bao tải gai dày còn nguyên ấn triện son đỏ thẫm của nha môn quản lương triều đình. Chẳng có một hạt gạo trắng nào tuôn ra.
Rơi lả tả xuống nền đất ẩm chỉ toàn là trấu bổi mốc meo, mùn cưa và đất cát xám xịt trộn lẫn phân chuột khô khốc bốc lên mùi hôi nồng nặc.— Con đã rạch thử cả chục bao phía trong. — Tấn phẫn uất chỉ vào góc kho khuất sau cánh cửa ngách. — Toàn bộ gạo lành do triều đình xuất kho đã bị rạch đáy tráo ruột sạch sẽ bằng phế phẩm!
Những bao gạo ngon thực sự đang được đóng vào các sọt đan có đánh dấu riêng của trang trại họ Trần, tập kết sát bến sông sau hậu doanh để chuẩn bị chở đi tẩu tán! Bằng chứng rành rành như núi, không thể chối cãi! Viên lại dịch mặt cắt không còn hạt máu, hai chân nhũn ra quỳ rạp xuống sàn đất run như cầy sấy.
Nộ khí ngút ngàn bốc lên lồng ngực Mai Doãn Khiêm. Ba vạn quan tiền kho, hàng ngàn thạch lương thảo nuôi quân cứu đê đã bị bàn tay tham tàn của lũ quan lại câu kết cùng hào cường bòn rút trắng trợn, xem sinh mạng năm vạn con người chẳng bằng loài sâu bọ!— Tấn nhi! — Khiêm gằn từng tiếng, uy nghiêm truyền lệnh.
— Lấy giấy mực và chu sa trong tráp ra đây! Lập tức niêm phong toàn bộ kho lương này lại! Đích thân ta sẽ ký vào phong ấn, áp giải tên gian lại này lên công đường định tội, dâng biểu hỏa tốc về kinh kỳ tâu xin Thái sư trảm quyết phường sâu mọt!
Mai Tấn lập tức dạ ran, mở ống quyển chuẩn bị dán giấy niêm phong lên then cài cửa kho.“Xoạt!”Một tiếng kim loại sắc lạnh vang lên cắt ngang bầu không khí ngột ngạt. Lưỡi đoản đao sáng loáng cắm phập vào khung gỗ lim của cánh cửa kho lương, chắn ngang tầm với của hai cha con Doãn Khiêm chỉ trong gang tấc.
Đỗ Thiết từ ngoài cửa sải bước tiến vào, thân hình vạm vỡ của viên võ quan đổ dài trên nền đất. Bàn tay gân guốc của hắn vẫn đặt chặt trên chuôi đao cắm sâu vào then cửa, vết sẹo dài bên gò má trái khẽ giật giật dưới ánh nắng ban mai vừa le lói.
Đôi mắt sắc lạnh của Đỗ Thiết nhìn thẳng vào Doãn Khiêm, giọng nói trầm đục vang lên lạnh buốt: — Mai Phó sứ, ngài chớ vội chọc vào tổ kiến lửa. Ở cái lộ Tam Đái này, không có lệnh bài của Lê Chánh sứ đại nhân, đừng nói là một kho lương, ngay cả một cọng rơm ngài cũng đừng hòng niêm phong!
