Gió lạnh từ sông Nhị Hà vẫn rít từng hồi qua khe cửa, nhưng lòng Mai Doãn Khiêm đã lắng lại tựa mặt hồ sâu. Ông chầm chậm đưa mảnh giấy bản lại gần ngọn đèn bấc leo lét. Ngọn lửa bừng lên, l**m trọn những dòng chữ đe dọa hung hiểm rồi biến mảnh giấy bản thành nắm tàn tro đen xỉn rơi lả tả xuống lòng bàn tay.
Khiêm siết chặt nắm tay, để vụn tro nghiền nát trong kẽ ngón. Bức mật thư nặc danh không làm lòng ông dao động, trái lại càng hun đúc thêm ngọn lửa sắt đá. Bè lũ sâu mọt ở Tam Đái đã đánh hơi thấy chiếu chỉ của triều đình và bắt đầu giương nanh múa vuốt.
Ông gạt tàn tro vào tráp mây, khép chặt then cài cửa gỗ lim, lòng tự nhủ trời sáng sẽ lập tức lên đường. Sáng hôm sau, chiếc thuyền quan mũi nhọn giương buồm nâu rẽ sóng ngược dòng Nhị Hà.
Tiết trời vào hạ nhưng mưa dầm sùi sụt suốt hai ngày đêm khiến nước sông cuộn lên một màu đỏ ngầu hung bạo, sủi bọt trắng xóa va vào mạn thuyền ầm ầm. Mãi đến xế chiều ngày thứ ba, lỵ sở Tam Đái mới hiện ra sau màn mưa giăng mờ mịt. Từ mũi thuyền, Mai Doãn Khiêm đứng đón gió, tà áo chàm phần phật bay.
Mùi phù sa nồng ngái quen thuộc xốc thẳng vào mũi, nhưng đập vào mắt ông không phải là cảnh bờ bãi trù phú, mà là một đại công trường ngổn ngang đến xé lòng. Dưới làn mưa lạnh buốt, dải đất bồi kéo dài ngút tầm mắt đang bị đào xới tan hoang.
Hàng ngàn phu dịch gầy guộc trần lưng, da bọc xương, ngâm mình dưới lớp bùn lầy xám xịt ngập quá bắp đùi. Từng dòng người liêu xiêu, oằn mình cõng những sọt đất nặng trĩu bước đi run rẩy trên bờ dốc trơn trượt.
Tiếng mõ thúc dồn dập hòa cùng tiếng roi da vun vút và tiếng la hét thúc giục của đám nha sai, át cả tiếng gió rít bên bờ sông.— Cha nhìn kìa... — Mai Tấn đứng cạnh, khẽ thốt lên, gương mặt chàng thư sinh trẻ tuổi tái đi trước cảnh tượng cơ cực cùng cực của bách tính.
Khiêm không đáp, chỉ lặng lẽ siết chặt chiếc thước tầm bằng gỗ lim giắt bên hông. Những đôi mắt trũng sâu, vô hồn của đám phu dịch ngước nhìn chiếc thuyền quan lướt qua bến sông như những vệt mực lem luốc trên trang giấy rách. Thuyền cập bến đá lỵ sở, cha con Khiêm rảo bước về phía dinh Hà đê sứ.
Trái ngược hoàn toàn với cảnh bùn lầy nước đọng ngoài bến sông, bên trong dinh sở lại nguy nga, bề thế. Mùi hương trầm thơm ngát tỏa ra từ chiếc lư đồng mắt cua đặt giữa sảnh lớn, xua tan đi cái lạnh ẩm của mưa dầm.
Chánh sứ Lê Khắc Hoàn chừng ngoài năm mươi tuổi, thân hình đẫy đà khoác tấm áo lụa gấm thêu hoa cúc vàng óng ả, ung dung ngồi trên sập gụ. Tay nâng chén trà búp sen tỏa khói nghi ngút, đôi mắt ti hí của Hoàn khẽ nheo lại khi thấy Doãn Khiêm bước vào với đôi hài lấm lem bùn non.— Ha ha! Doãn Khiêm hiền đệ!
Bản sứ ngóng trông đệ tựa ngóng mưa rào giữa hạn! — Hoàn đặt chén trà xuống, cười giả lả rồi đích thân đứng dậy đón khách. — Bệ hạ thật khéo chọn người. Đệ là bậc túc nho thông kim bác cổ, nay về Tam Đái này, bản sứ như có thêm cánh tay mặt! Khiêm chắp tay thi lễ, giữ đúng phép tắc quan trường:— Chánh sứ đại nhân quá khen.
Khiêm mỗ phụng mệnh triều đình và ơn sâu của Hoàng thượng, chỉ mong đem chút sức mọn cùng đại nhân gánh vác việc lớn nơi đầu sóng ngọn gió.
Hoàn vẫy tay ra hiệu cho thị tỳ dâng trà cho Khiêm và Tấn, đoạn phẩy chiếc quạt trầm hương trên tay, giọng chuyển sang vẻ ân cần ngọt nhạt:— Hiền đệ lặn lội đường xa vất vả, hãy dùng chén trà búp sen cho ấm người. Chuyện đê điều ở Tam Đái này quy mô rộng lớn, ba mươi dặm đê quai vạc không phải chuyện một sớm một chiều.
Hiền đệ là bậc văn nhân thanh nhã, cứ việc ngồi trong sảnh ấm xem xét sổ sách, chỉnh lý công văn dâng lên Thăng Long. Còn việc bãi bồi gió máy, phu phen tạp dịch dầm mưa dãi nắng ngoài kia, bản sứ đã cắt đặt thuộc hạ và các bậc hào cường bản xứ quán xuyến chu toàn rồi, đệ hà tất phải bận tâm cho hao tổn tâm lực?
Khiêm nâng chén trà, nhấp một ngụm nhỏ nhưng vị ngọt thanh của trà sen không thể xua đi vị chát đắng đang dâng lên trong cổ họng. Ông nhìn thẳng vào ánh mắt giảo hoạt của viên Chánh sứ, điềm đạm cất lời:— Tạ ơn đại nhân có lòng đoái hoài.
Nhưng chiếu thư Bệ hạ đã giao rõ: đắp đê quai vạc là quốc kế dân sinh, giữ được lũy đê mới giữ được bát cơm của bách tính. Phàm là việc sông nước, nếu không tự mình lội bùn đo ngấn nước, cắm cọc dò mạch xoáy thì công văn dẫu chép đẹp đến đâu cũng chỉ là mớ giấy lộn trước sóng dữ Nhị Hà.
Khiêm mỗ chưa dám an phận ngồi phòng ấm khi ngoài kia năm vạn dân phu còn đang ngâm mình trong nước rét. Nụ cười trên gương mặt đẫy đà của Lê Khắc Hoàn khẽ sượng lại trong chớp mắt, khóe miệng giật nhẹ trước thái độ cứng cỏi bất ngờ của viên tân Phó sứ.
Không khí trong công đường bỗng chùng xuống thì một tràng bước chân nặng nề, dồn dập vang lên từ ngoài bậc tam cấp. Một võ quan cao lớn sải bước tiến vào.
Người ấy trạc ngoài ba mươi tuổi, khoác giáp da sẫm màu nước mưa, thắt lưng bản rộng giắt thanh đoản đao vỏ sắt, vết sẹo dài vắt ngang gò má trái càng làm tăng thêm vẻ phong trần, cương nghị.— Khởi bẩm Chánh sứ đại nhân!
— Người đó cất giọng đanh gọn tựa lệnh truyền, chỉ ôm quyền hành lễ lấy lệ chứ không hề quỳ lạy.— Đỗ quân hiệu, có việc gì mà vội vã thế? — Hoàn nhíu mày vẻ khó chịu.— Khởi bẩm, mạt tướng vừa bắt lại ba tên tráng đinh trốn dịch tại khúc đê Lãng Điền. Bọn chúng lén vượt rào giữa đêm mưa, toan bơi qua sông trốn về hạ lưu.
Mạt tướng xin ý kiến đại nhân xử lý! Dứt lời, ánh mắt sắc lạnh của Đỗ Thiết đảo qua người Doãn Khiêm. Nhìn vóc dáng mảnh khảnh cùng tà áo chàm nho nhã của Khiêm, nơi khóe mắt viên võ tướng thoáng hiện vẻ khinh thị cùng nghi ngại sâu sắc. Hoàn xua tay áo gấm, lạnh lùng phán:— Lũ tiện dân lười biếng!
Cho đánh ba mươi roi mây thị chúng rồi tống trở lại hố bùn đào đất. Kỷ cương không nghiêm thì năm vạn phu dịch này làm sao xong việc trước tháng Bảy? Đỗ Thiết siết chặt chuôi đao, cơ mặt giật nhẹ nhưng không nói thêm một lời, dứt khoát quay người rảo bước ra ngoài sảnh, để lại vệt nước mưa sũng ướt trên nền gạch hoa.
Đêm buông xuống, mưa phùn vẫn giăng kín bầu trời Tam Đái, gió sông rít từng hồi lạnh buốt. Mặc cho Chánh sứ Lê Khắc Hoàn ân cần sắp xếp gian phòng khách nguy nga lót đệm gấm, Mai Doãn Khiêm từ chối khéo léo.
Sau khi cất tráp mây và địa đồ vào chỗ an toàn, ông thay chiếc áo vải thô, quấn xà cạp cẩn thận rồi cùng Mai Tấn khoác tơi lá, tay cầm chiếc đèn lồng bọc giấy dầu bước ra khỏi dinh sở. Bùn lầy ngoài lỵ sở nhão nhoét, trơn như đổ mỡ.
Hai cha con lội bì bõm men theo triền sông, hướng về khu bãi bồi nơi tập trung các lán trại của phu dịch. Cảnh tượng hiện ra dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn lồng khiến lòng Khiêm quặn thắt. Hàng ngàn túp lều tranh xiêu vẹo, lợp bằng rơm rạ mục nát dựng san sát nhau trên nền đất sũng nước sát mép dòng Nhị Hà cuồn cuộn gầm gào.
Nước sông chỉ chực chồm lên cuốn phăng dãy lều bất cứ lúc nào. Từ bên trong các lán, tiếng ho rũ rượi, tiếng rên xiết vì kiệt sức và hơi lạnh bốc lên nồng nặc mùi bùn tanh và ẩm mốc.
Những tấm thân trần co quắp trong manh chiếu rách, run rẩy đón từng đợt gió độc từ mặt sông thổi thốc vào.— Năm vạn con người... mà phải sống thế này sao cha? — Giọng Mai Tấn nghẹn ngào, bàn tay cầm đèn lồng run rẩy. Khiêm nén tiếng thở dài nặng trĩu.
Ông vừa định bước tới một lán trại gần đó thì chợt nghe tiếng quát tháo dữ dằn cùng tiếng la hét hỗn loạn từ khúc quanh bến Lãng Điền vọng lại. Ánh đuốc bập bùng rạch nát màn mưa đêm.
Dưới ánh lửa đỏ quạch, một toán hào đinh mặc áo chẽn đen, tay lăm lăm roi mây có tra móc sắt đang vây kín một phu già gầy guộc ngã sấp trong vũng bùn lầy. Tiếng roi quất xé gió vun vút xen lẫn tiếng da thịt rách toạc nghe ghê rợn:Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: — Đồ già khốn kiếp! Dám cản đường xe đá của Trần trang chủ à? Đánh!
Đánh chết bỏ xác cho cá sông Nhị Hà rỉa thịt! Lão phu đầu tóc muối tiêu, lưng còng rạp xuống đang ôm chặt lấy chiếc giỏ tre vỡ nát, máu từ lưng ứa ra đỏ lòm hòa vào bùn nhão.
Xung quanh, hàng trăm tráng đinh gầy gò túm tụm lại, mắt đỏ ngầu phẫn uất nhưng sợ hãi lùi lại trước những ngọn đuốc và lưỡi đoản đao sáng loáng của đám hào đinh. Tiếng kêu gào ai oán, tiếng rên la thấu tận trời xanh nổi lên, xé toạc màn mưa đêm tĩnh mịch bên bến sông cuồng nộ. Mai Doãn Khiêm biến sắc, chiếc thước tầm trong tay siết chặt, ông lập tức sấn bước lao tới vũng bùn.
