Dòng cuồng lưu đỏ ngầu lạnh buốt xé toạc lớp áo chàm, cuốn phăng Mai Doãn Khiêm vào vòng xoáy tăm tối dưới lòng sông Nhị Hà. Nước phù sa nồng ngái thốc mạnh vào mũi họng, ép chặt lồng ngực khiến hơi thở của ông nghẽn lại.
Trong cơn chới với giữa lằn ranh sinh tử, trước mắt Khiêm chỉ chập chờn hình ảnh dải đê non đang oằn mình r*n r* và ánh mắt trông đợi của hàng vạn đồng bào châu thổ. Nếu thân đê quai vạc vỡ tan đêm nay, toàn bộ lúa má, xóm làng và tính mạng của muôn dân trăm họ phía hạ lưu sẽ bị thủy thần nuốt chửng.
Ý nghĩ ấy bùng lên như một đốm than rực cháy, níu giữ chút ý thức sau cùng của viên Tiết chế. Bỗng một lực kéo ngàn cân siết chặt lấy dải thắt lưng da của Khiêm.
Giữa làn nước đục ngầu cuộn xiết, cánh tay đồng hun cuồn cuộn gân guốc của Đỗ Thiết xuất hiện tựa gọng kìm thép, ghìm chặt lấy ông rồi dùng hết sức bình sinh đạp nước trồi lên. Cùng lúc ấy, ba sợi dây chão lớn từ chiếc bè nứa gần nhất lao vút xuống.
Những tráng đinh khỏe mạnh nhất bến Lãng Điền đồng loạt quăng mình níu lấy hai người, hợp lực kéo giật họ ngược dòng xoáy dữ.“Ầm!”Khiêm và Thiết được kéo bật lên mặt sàn bè nứa ướt sũng. Tiết chế Tam Đái nôn thốc ra từng ngụm nước phù sa đỏ quạch, lồng ngực phập phồng đau nhức như vừa bị đá tảng đè nặng.— Tiết chế còn sống!
Tiết chế đại nhân tai qua nạn khỏi rồi! Tiếng reo hò nghẹn ngào của lão phu trưởng Bá Giáp cùng hàng chục tráng đinh vang lên, át cả tiếng gió rít điên cuồng. Bá Giáp run rẩy ôm chầm lấy Khiêm, nước mắt lã chã hòa cùng nước mưa ròng ròng trên gò má phong sương.
Đỗ Thiết vừa ho sặc sụa vừa chống tay ngồi dậy, vết sẹo dài bên má giật liên hồi, đôi mắt rực lửa nhìn Khiêm:— Huynh liều mạng quá! Suýt chút nữa thì dòng Nhị Hà này nuốt chửng cả đại cục rồi! Gió lạnh quất từng cơn buốt nhói vào da thịt, cơn rét run khiến hàm răng Khiêm va vào nhau cầm cập.
Nhưng ánh mắt ông lập tức dán chặt xuống mặt nước ngay cạnh mép bè. Chiếc cọc mốc định vị đã bị sóng cuốn phăng, lỗ rò ngầm khổng lồ không còn vật cản đang sùng sục đùn cát lên dữ dội hơn, từng mảng bùn đất nơi sườn đê tiếp tục sụt lở ầm ầm.— Chưa thể lui! — Khiêm nghiến răng gạt phăng vòng tay nâng đỡ của Bá Giáp.
Ông gượng đứng thẳng dậy trên sàn bè trơn trượt, hai bàn tay rách toạc rỉ máu bấu chặt lấy cán cờ lệnh thêu kim tuyến thấm đẫm bùn non. Trước mặt ông, hàng trăm tráng đinh đang kết chuỗi người ngăn sóng dưới nước bắt đầu kiệt sức, nhiều cánh tay đã run rẩy nhưng vẫn cố gồng mình chống chọi cuồng lưu.— Đỗ đệ! Bá thúc!
Mau chấn chỉnh đội hình! — Tiếng Khiêm rền vang đanh thép, ngập tràn uy lực của người thống lĩnh. — Họng nước ngầm đang há miệng nuốt chân đê. Đẩy chiếc rọ tre bọc đá lớn nhất ra mũi bè! Ta cùng chư vị dốc tàn lực chặn đứng cửa tử này!
Lời hiệu triệu của viên Tiết chế như thổi luồng sinh khí nóng rực vào hàng trăm lồng ngực giá lạnh. Đỗ Thiết gầm lên một tiếng vang động bờ sông, cùng sáu tráng đinh hộ pháp lao vào chiếc đòn bẩy gỗ nghiến.
Chiếc rọ tre hình ống khổng lồ dài hơn một trượng, kết bằng ba lớp nan cật mắt cáo dày đặc, nêm chặt hơn năm mươi thạch đá hộc nặng trịch, từ từ lăn bánh trên các con lăn gỗ về phía mũi bè. Doãn Khiêm đứng sững nơi đầu sóng, ngọn cờ lệnh trong tay phất mạnh chỉ thẳng vào tâm xoáy sủi bọt:— Canh đúng dòng chảy!
Hạ rọ!“Ầm!”Khối rọ đá khổng lồ lao thẳng xuống lòng nước xiết, tạo nên cột sóng đỏ ngầu bắn cao quá đầu người. Trọng lượng ngàn cân của đá hộc lập tức ghìm chặt khối rọ cắm sâu xuống đáy bùn cát, đè bẹp miệng hố rò ngầm.
Cấu trúc rọ tre ba lớp mắt cáo phát huy công năng kỳ diệu: các thanh nan tre già dẻo dai đan cài ken kết chặn đứng lớp cát xốp đang đùn lên, đồng thời giữ trọn lớp phù sa đặc quánh bồi lắng vào từng kẽ đá. Dòng nước ngầm hung hãn bị chặn đứng, bọt khí ùng ục tan dần, sườn đê phía trên lập tức ngừng rung chuyển.
Điểm sụt lở hiểm nghèo chỉ trong chốc lát đã biến thành một lũy đá ngầm bất khả xâm phạm dưới đáy sông! Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: — Đè bẹp được miệng xoáy rồi! Chân móng đê đứng vững rồi! Tiếng hô vang dội từ mũi bè lan nhanh như sóng cuộn dọc theo bờ sông Lãng Điền.
Hàng ngàn dân phu trên sườn đê vỡ òa trong niềm hân hoan tột cùng. Đỗ Thiết nắm chặt lấy bả vai Khiêm, hai người nhìn nhau, bật cười hào sảng giữa trời giông gió. Thế nhưng, thử thách lớn nhất vẫn còn nằm ở phía trước. Lúc này canh ba sắp tàn, đêm rằm tháng Bảy âm lịch mưa như trút nước.
Những dòng thác lũ cuồn cuộn từ ngã ba sông Thao, sông Lô, sông Đà trút xuống Nhị Hà làm mặt nước dâng cao chưa từng thấy. Từng đợt sóng cuồng chồm lên lồng lộn, mép nước đỏ ngầu đã l**m sát mép bờ, chỉ còn cách mặt đê non chưa đầy nửa thước. Con trạch đất cũ sắp sửa bị tràn qua.
Khiêm bước nhanh lên bờ, vung cao thanh thượng phương bảo kiếm thắt dải lụa vàng do triều đình ban thưởng:— Thưa toàn thể quân dân Tam Đái! Chân móng đã vững, nhưng sóng dữ sắp tràn bờ! Sau lưng chúng ta là mùa màng bờ xôi ruộng mật, là cha mẹ vợ con, là kinh thành Thăng Long.
Đêm nay, quyết không để một tấc sóng lọt qua thân đê! Đêm ấy trở thành một đêm trắng không thể nào quên trong ký ức của muôn dân trăm họ châu thổ. Dọc ba mươi dặm đê quai vạc, hàng vạn ngọn đuốc tẩm dầu bùng cháy rực rỡ, xua tan màn đêm đen kịt và mưa gió bão bùng.
Năm vạn tráng đinh, phu dịch và binh sĩ cấm quân chia thành từng hàng dài bất tận, kề vai sát cánh chuyển đất nén đá. Tiếng hò dô hộ đê, tiếng vồ đầm đất nện huỳnh huỵch vang lên rền rĩ khắp một dải non sông.
Mai Tấn cùng bé Cẩu lội bùn thoăn thoắt, chuyền tay từng gáo cháo hoa thơm nồng mùi gừng ấm cho những người phu phen kiệt sức. Cấm quân không còn phân biệt quân doanh, dân đinh không còn màng nhọc nhằn lao dịch. Họ hòa làm một khối thép kiên cường. Người vác sọt đá, người đội thúng đất, người chèn phên nứa đóng cọc tre giữ vách.
Từng thớ đất đỏ màu mỡ được đắp dày thêm, đầm chặt thêm, nâng mặt đê quai vạc cao thêm ba thước, sừng sững tựa bức trường thành vươn dài ngăn cách đôi bờ sinh tử. Biết bao đợt sóng cuồng từ thượng nguồn gầm thét lao tới, quất ầm ầm vào sườn đê, nhưng đê không hề lay chuyển.
Bức lũy đất đá được kết bằng mồ hôi, máu và ý chí sắt đá của quân dân Đại Việt đã kiêu hãnh bẻ gãy mọi cơn thịnh nộ của thủy thần. Canh năm trôi qua. Gió bão dần lặng hạt, những tia sáng đầu tiên của ngày rằm tháng Bảy xé toạc màn sương mù xám xịt trên đỉnh dãy Tam Đảo.
Đột nhiên, từ chòi canh cao vút bến Lãng Điền, tiếng tù và bằng sừng trâu rúc lên từng hồi dài lảnh lót, xé tan không gian tĩnh mịch. Một bóng quân báo nhoài người ra khỏi vọng gác, vung cờ lệnh gào lớn trong niềm sung sướng tột cùng:— Nước rút rồi! Đỉnh lũ thượng nguồn đã hạ xuống hai thước rồi!
Tiếng reo hò vang dậy rung chuyển cả góc trời Tam Đái. Mai Doãn Khiêm đứng trên đỉnh đê cao lộng gió, tà áo chàm bay phần phật. Bên cạnh ông, Đỗ Thiết, Bá Giáp và hàng vạn con người ôm chằm lấy nhau rơi nước mắt.
Dưới chân họ, dải đê quai vạc ba mươi dặm sừng sững uy nghi như lưng rồng uốn lượn, che chở trọn vẹn những xóm làng trù phú và cánh đồng châu thổ đang chờ ngày mùa gặt mới.
