Gió sớm trên đỉnh đê Lãng Điền thổi lồng lộng, xua tan làn sương mù xám xịt vừa dạt về phía chân dãy Tam Đảo. Sau đêm trắng nghẹt thở ghìm chân thủy thần, Doãn Khiêm buông lỏng bàn tay đang nắm chặt chuôi thanh thượng phương bảo kiếm. Đôi bờ vai gầy khẽ run lên.
Giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má sạm đen vì gió sương, hòa cùng bùn đất đỏ bết dính. Đỗ Thiết siết chặt bả vai ông, nụ cười rạng rỡ bừng nở trên gương mặt phong trần in hằn vết sẹo dài.
Phía sau lưng họ, Bá Giáp cùng hàng vạn phu phen nghẹn ngào quỳ sụp xuống mặt đất mới đắp, tạ ơn trời đất đã che chở cho bờ cõi châu thổ qua cơn đại nạn. Thế nhưng, Doãn Khiêm chỉ cho phép lòng mình chùng xuống trong gang tấc.
Nhìn ngấn nước đỏ ngầu dưới chân cọc thủy chí đã hạ xuống trọn hai thước, ông vội gạt nước mắt, quay phắt lại quan sát dải đê đất non vừa được tôn cao đêm qua. Mùi phù sa nồng ngái bốc lên từ mép nước đang rút nhanh đánh thức sự mẫn cảm của một người am tường thủy thuật.— Đỗ quân hiệu, Bá lão trượng!
— Giọng Khiêm đanh thép cất lên. — Nước rút hai thước là hồng phúc của giang sơn, nhưng chớ vội lơi tay! Nước lũ rút đột ngột mới chính là lúc mái đê nguy khốn nhất. Sức nước bên ngoài vừa hẫng hụt, thớ đất non bên trong còn ngậm no nước, rất dễ sinh biến sụt trượt mái đất cuốn phăng chân móng!
Đỗ Thiết giật mình, sắc mặt lập tức nghiêm nghị trở lại: — Huynh nói chí phải! Binh pháp có câu “thắng không kiêu, bại không nản”, hộ đê cũng như giữ lũy đánh giặc, chưa ráo nước thì chưa thể buông đao! Doãn Khiêm toan sải bước thị sát thì hai bàn tay chợt co giật bởi cơn đau buốt thấu xương.
Suốt đêm qua vật lộn ghìm rọ đá và bám chặt dây thừng giữa dòng xoáy cuồng loạn, lòng bàn tay ông đã rách toác, máu tươi rỉ qua kẽ ngón tay nhỏ từng giọt thẫm đỏ.— Cha! — Tiếng kêu thảng thốt vang lên từ dốc đê. Mai Tấn cùng bé Cẩu hớt hải chạy tới.
Cậu thiếu niên vội đặt chiếc chậu đồng đựng nước lá vối ấm và hũ thuốc bột quế hồi xuống vệ cỏ, đôi mắt đỏ hoe nhìn cha. Bé Cẩu nhanh thoăn thoắt xé những dải lụa mềm trắng sạch mang theo từ lều chỉ huy.— Người ngâm nước lạnh cả đêm, hai tay lại nát thế này…
— Mai Tấn nghẹn ngào nâng lấy cổ tay cha, cẩn thận dùng khăn mềm thấm nước ấm rửa sạch từng hạt cát bám sâu trong miệng vết thương. Cơn xót rát khiến vầng trán Khiêm túa mồ hôi, nhưng ông chỉ khẽ mỉm cười trấn an con trai: — Đau chút da thịt có thấm tháp gì so với tính mạng vạn dân.
Tấn nhi, rịt thuốc nhanh lên, ta còn phải cùng Đỗ quân hiệu tuần tra ba mươi dặm đê. Bé Cẩu rắc bột thuốc nâu sẫm lên miệng vết rách, rồi cùng Tấn khéo léo quấn dải lụa sạch bao bọc đôi bàn tay cho Khiêm. Lớp thuốc quế hồi tỏa mùi thơm nồng, dần dà xua bớt cái lạnh tê dại nơi đầu ngón tay.
Vừa buộc xong mối gút, Khiêm liền tiến thẳng tới bên con chiến mã xích thố mà quân binh vừa dắt lại. Đỗ Thiết cũng nhảy phắt lên yên, vung roi: — Huynh đệ cấm quân theo ta! Chia làm ba toán tuần tra dọc ba mươi dặm đê! Tiếng vó ngựa dồn dập gõ trên mặt đê đầm nén, cuốn theo bụi đỏ quyện cùng sương sớm.
Doãn Khiêm ghìm cương, ánh mắt sắc bén dõi theo từng tấc chân vạc ven sông. Đúng như dự liệu, khi dòng cuồng lưu rút mau, hiểm họa ngầm bắt đầu lộ diện. Tại khúc quanh giáp ranh giữa Lãng Điền và Tam Dương, dòng nước xoáy trước đó đã khoét sâu vào chân đê tạo thành những hốc hàm ếch nham nhở.
Đất phù sa bên trên mất đi lực đẩy của nước sông, bắt đầu xuất hiện những vết rạn chân chim hình vòng cung, chực chờ đổ ụp xuống lòng dòng xiết.— Dừng lại! — Doãn Khiêm giật mạnh dây cương, con tuấn mã hí vang chồm hai vó trước.
Ông nhảy xuống ngựa, chạy vội tới mép sạt, cúi sát quan sát thớ đất đang rỉ nước: — Cung trượt này dài tới bốn trượng! Đất đang tụt dần, nếu không ghìm lại ngay, chỉ một đợt sóng va là cả đoạn sườn đê non sẽ đổ nhào xuống sông!
Lão phu trưởng Bá Giáp dẫn theo một toán tráng đinh hớt hải chạy tới: — Lạy trời, may mà Tiết chế đại nhân phát hiện kịp thời! Bây giờ phải làm sao, bẩm quan nhân? Doãn Khiêm đứng thẳng người, khẩu lệnh ban ra dứt khoát: — Bá lão trượng!
Mau điều năm trăm tráng đinh, vót nhọn cọc tre già loại một trượng, đóng so le thành ba hàng cừ ken dày dọc mép hàm ếch. Sau đó, rải một lớp rơm rạ bện thừng dày năm tấc để giữ đất phù sa, rồi lăn ngay ba mươi khối rọ tre bọc đá hộc xếp chồng lên dằn chặt chân cung trượt! Tuyệt đối không được tiếc đá!— Tuân lệnh!
— Lão phu trưởng dõng dạc đáp, lập tức gióng vang chiếc tù và bằng sừng trâu. Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Không khí công trường bến Lãng Điền lại sôi sục như trận tiền. Dưới sự đốc thúc của Đỗ Thiết, cấm quân cùng phu dịch phối hợp nhịp nhàng, nện cọc cừ huỳnh huỵch rền vang khúc sông.
Hàng ngàn cọc tre già cắm phập xuống bùn cát tạo thành bờ giậu vững chắc. Những khối rọ tre bọc đá hộc nặng ngàn cân được lăn rầm rầm xuống chân đê, đè chặt lên lớp rơm rạ bện thừng, khóa chết toàn bộ các điểm sụt lở nguy hiểm. Nguy cơ tụt mái đất non bị dập tắt hoàn toàn.
Mặt trời dần lên cao, xua tan màn mây u ám trên rặng Tam Đảo. Dải nắng vàng hanh rực rỡ trải dài trên dòng Nhị Hà phù sa đỏ ối, nhuộm sáng ba mươi dặm lũy thành quai vạc sừng sững uy nghi. Đúng lúc ấy, từ các đường thôn Lãng Điền, Bạch Hạc, Tam Dương, tiếng cười nói xôn xao vang dậy.
Từng đoàn bách tính, từ bô lão râu tóc bạc phơ đến phụ nữ, trẻ nhỏ, tay gánh tay bưng lũ lượt kéo ra mặt đê. Họ mang theo những nồi cháo gừng bốc khói, thúng cơm nắm muối vừng cùng thuốc men úy lạo năm vạn phu dịch sau đêm sinh tử.
Một bà cụ tóc hoa râm run rẩy bước tới bên Doãn Khiêm, hai tay bưng bát nước chè xanh nghi ngút khói, đôi mắt mờ đục nhòa lệ: — Quan Tiết chế! Nhờ có ngài và quân lính liều mình giữ đê, cả làng Lãng Điền già trẻ chúng tôi mới giữ được mạng sống, giữ được bát cơm bờ xôi ruộng mật. Xin ngài nhận lấy bát nước của dân nghèo!
Doãn Khiêm đỡ lấy bát nước bằng đôi tay bọc dải lụa trắng, cúi đầu cảm tạ tấm lòng bách tính. Nhìn quân dân quây quần sẻ chia từng gáo cháo ấm, tiếng cười nói rộn rã xua tan nhọc nhằn hiểm nguy, Khiêm thấu suốt lời dạy của tiền nhân: Lũy đất dẫu cao cũng không bền bằng lũy thành lòng dân.
Tinh thần thương dân ái quốc của muôn họ Đại Việt mới là sức mạnh vô địch bẻ gãy mọi cuồng lưu hung bạo. Đến giữa trưa, công việc gia cố các cung trượt và đầm nén mặt đê dần hoàn tất. Thân đê ba mươi dặm Tam Đái sừng sững tựa trường thành kiên cố, hiên ngang vươn dài che chở cho đồng bằng trù phú phía sau.
Bỗng từ đường cái quan, tiếng vó ngựa dồn dập nổi lên như sấm rền. Một kỵ mã cấm quân khoác áo choàng đỏ thêu kim tuyến phi như bay tới, cát bụi mù mịt. Người lính ghìm cương trước mặt Doãn Khiêm và Đỗ Thiết, nhảy xuống quỳ một gối cấp báo: — Báo Tiết chế đại nhân, Đỗ quân hiệu!
Khâm sai Ngự sử đài Phạm Ứng Long mang theo sắc chỉ nghiêm minh của Hình bộ đã quay lại lỵ sở Tam Đái! Phía sau ngài là đoàn xe tù áp giải lũ sâu mọt Lê Khắc Hoàn và Trần Bá Cửu, đang chờ lệnh Tiết chế cùng kiểm định tang vật để chuẩn bị khởi hành hồi kinh thụ tội trước cửa khuyết! Đôi mắt Doãn Khiêm ánh lên một tia sáng đanh thép. Giờ khắc công lý thực thi cuối cùng đã điểm.
