Nắng trưa tháng Năm nung bỏng những mái ngói thâm nghiêm của Quốc Tử Giám nơi kinh thành Thăng Long. Khoảng sân gạch Bát Tràng hắt lên hơi nóng hầm hập, nhưng trong tàng thư các, Mai Doãn Khiêm dường như quên hết nỗi oi nồng của đất trời. Tà áo chàm đẫm mồ hôi, Khiêm gò mình bên chiếc bàn gỗ gụ thô mộc.
Ngón tay trỏ có vết chai dày miết chặt thanh thước gỗ, cẩn trọng vạch từng đường son lên tấm địa đồ da dê. Đó là dòng Nhị Hà hung hãn mùa lũ — con thủy quái đỏ ngầu phù sa bao đời gieo rắc tang thương cho châu thổ.— Mai học sĩ! Có khẩu dụ khẩn! Tiếng bước chân gấp gáp nện trên thềm gạch.
Viên nội thị áo lam hớt hải xô then cửa, thở không ra hơi:— Quan gia và Thái sư đang ngự tại điện Diên Hồng triệu kiến ngài gấp. Giờ Ngọ vừa điểm, đình thần đang tranh cãi kịch liệt, xin học sĩ mau theo tiểu nhân vào nội điện! Doãn Khiêm không hề bối rối.
Ông chậm rãi gác bút lông lên giá sừng, khẽ chạm vào mép cuộn địa đồ chưa ráo mực son. Nửa năm qua, tin tức thủy tai từ thượng du liên tiếp dội về kinh sư: sông dâng cuồn cuộn, bờ xôi ruộng mật nhiều lộ ngập chìm, dân chúng trôi giạt cơ hàn. Điều gì phải đến ắt đã đến.
Khiêm lồng cuộn da dê vào ống tre, khoác tráp mây lên vai rồi rảo bước theo chân nội thị.*Điện Diên Hồng ngột ngạt tựa lò than hồng. Trên ngai rồng, Hoàng đế Trần Thái Tông tuổi ngoài ba mươi, nét mặt uy nghiêm đượm vẻ âu lo.
Đứng bên hữu ngự tọa là Thái sư Trần Thủ Độ sừng sững tựa cột đồng, ánh mắt sắc bén lướt qua hàng quan lại đang ồn ào nghị sự.— Muôn tâu Bệ hạ! — Một lão thần run rẩy dâng sớ. — Nước Nhị Hà dữ dội chưa từng thấy. Nếu cứ đắp lũy đất chắp vá quanh Thăng Long như thời Lý, chỉ tốn công ném tiền xuống sông.
Chi bằng hạ chiếu cho dân lánh nạn lên gò cao, chờ cạn nước rồi tính!— Nói xằng! — Viên quan võ bên cạnh lớn tiếng phản bác. — Dân bỏ ruộng thì lấy đâu lương thực nạp cho quân giữ nước? Phải điều quân cấm vệ, bắt tráng đinh khiêng đá lấp sông, quyết giữ bờ lũy! Đình thần tranh cãi râm ran, không ai chịu nhường ai.
Vua Trần Thái Tông giơ tay áo, cả điện lập tức im phăng phắc. Ánh mắt ngài dừng lại nơi Doãn Khiêm đang quỳ dưới thềm rồng.— Mai Doãn Khiêm. — Giọng vua trầm ấm vang vọng. — Trẫm nghe Thái sư khen khanh thông tỏ địa dư thủy văn, từng khảo sát khắp ngã ba sông ngọn nguồn châu thổ.
Nay lũ lớn chực tràn bờ, giang sơn lâm nguy, khanh có phương kế gì chăng? Doãn Khiêm dập đầu bái tạ, rồi đĩnh đạc đứng dậy. Trước hàng trăm cặp mắt dò xét, ông mở ống tre, trải rộng tấm địa đồ Đại Việt lên chiếc bàn thấp giữa triều đình.— Muôn tâu Bệ hạ, tâu Thái sư đại nhân! — Giọng Khiêm vang rền, khúc chiết từng lời.
— Sông Nhị Hà tựa rồng lửa, chỉ chặn mà không dẫn thì đê vỡ là điều tất yếu. Triều Lý đắp đê cục bộ, vỡ đâu vá đấy, khiến dòng nước bị bóp nghẹt, xé toạc hạ lưu. Muốn giữ yên gốc rễ xã tắc, hạ thần mạo muội dâng kế: Đắp đê quai vạc trên toàn cõi! Hai chữ “quai vạc” vang lên khiến cả điện Diên Hồng xôn xao.— Đê quai vạc?
— Thái sư Trần Thủ Độ nheo mắt, bước lên một bước. — Ý khanh là đắp một dải lũy đất liên hoàn men theo hai bờ sông?— Đúng như lời Thái sư soi xét! — Khiêm chỉ tay men theo vệt son đỏ ối. — Đê quai vạc nương theo thế nước, ôm trọn bờ sông từ đầu nguồn ra biển cả.
Nước lớn bị ghìm trong lòng máng khổng lồ, phù sa bồi lắng nâng cao ruộng đồng. Nhưng muốn đắp đê ấy, triều đình phải đặt ngạch quan chuyên trách, thi hành phép bồi thường hoa màu cho dân có ruộng bị đắp lấn, khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc.
Thái sư Trần Thủ Độ khẽ gật đầu, râu hoa râm rung nhẹ:— Khoan thư sức dân, lời ấy rất hợp ý ta. Nhưng ngòi bút dẫu hay, nước lũ ngoài đồng không đợi người. Lộ Tam Đái là ngã ba sông xung yếu xối thẳng về kinh sư, chính là yết hầu sống còn. Khanh dám đem tính mạng bảo đảm đắp vững lũy đê nơi ấy chăng?
Khiêm quỳ sụp xuống, hai tay dâng cao địa đồ, ánh mắt rực sáng kiên định:— Nếu không ngăn nổi dòng nước dữ Tam Đái, hạ thần xin đem đầu này nộp dưới chân ngai rồng! Trần Thái Tông đứng dậy, long nhan lộ vẻ hài lòng. Ngài bước xuống thềm ngọc, tự tay đỡ Khiêm dậy:— Trẫm chuẩn tấu!
Nay phong Mai Doãn Khiêm làm Hà đê Phó sứ lộ Tam Đái, cùng Chánh sứ Lê Khắc Hoàn đốc thúc năm vạn tráng đinh hộ đê. Trẫm hạn cho khanh: Phải hoàn tất ba mươi dặm đê quai vạc trọng yếu trước tuần trăng rằm tháng Bảy âm lịch, tuyệt đối không để sóng dữ đe dọa mùa màng và kinh thành!— Hạ thần lĩnh chỉ! Hoàng ân vạn tuế!
Nhận chiếu thư bọc gấm vàng còn thơm mùi mực ngự phê, Khiêm cảm thấy sức nặng nghìn cân đang đè lên đôi vai mình.*Bóng chiều bảng lảng buông xuống mái ngói cong vút của Quốc Tử Giám. Trở về thư phòng, Khiêm thu xếp hành trang.
Những cuốn sách thẻ tre rách mép, chiếc thước tầm bằng gỗ lim mòn vẹt cùng chiếc thước quy đo góc nghiêng dòng nước được ông cẩn thận xếp vào tráp mây.— Cha! Một bóng dáng thanh mảnh vội vã bước vào. Mai Tấn, chàng thư sinh mười tám tuổi khôi ngô tuấn tú, trên tay ôm chồng sổ sách.
Ánh mắt Tấn đượm vẻ lo âu nhưng chất chứa nhiệt huyết:— Con nghe tin triều đình bổ nhiệm cha làm Hà đê Phó sứ Tam Đái. Nơi ấy đầu sóng ngọn gió, xin cha cho con theo cùng để lo liệu việc ghi chép sổ sách và sổ công lương! Khiêm dừng tay, nhìn người con trai trưởng mang nhiều nét giống mình thuở thiếu thời.
Ông đặt bàn tay chai sạn lên vai con, giọng trầm xuống:— Tam Đái không phải chốn bàn việc văn chương bút mực. Nơi ấy bùn lầy ngập gối, lam chướng ngút trời, lòng người lại khó dò hơn cả vực sâu. Con đã nghĩ kỹ chưa?— Thưa cha, con quyết chí theo cha! — Tấn ngẩng cao đầu.
— Năm xưa cha dạy, kẻ sĩ học đạo thánh hiền không phải để ngồi mát ăn bát vàng, mà để đem sức mọn cứu vớt lê dân. Khiêm khẽ mỉm cười, nhưng trong đáy mắt ông bỗng dội về nỗi đau buốt tựa dao cứa. Bàn tay ông vô thức siết chặt chiếc thước tầm. Làm sao ông quên được thảm cảnh vỡ đê năm Kiến Gia cuối thời Lý.
Đêm ấy, dòng cuồng lưu xé toạc bờ bãi quê nhà. Nước ngập nóc thôn, cuốn phăng tất cả. Cha mẹ cùng những người thân ruột thịt của Khiêm đã vĩnh viễn bị vùi xác dưới bùn lạnh Nhị Hà. Khiêm sống sót nhờ ôm được khúc chuối trôi dạt, trơ trọi nhìn xóm làng tan tác thành bãi tha ma.
Nỗi đau xé ruột ngày ấy hóa thành lời thề sắt đá: Đời này, Khiêm quyết đem hết trí lực trị phục con sông dữ, không để thêm một mái nhà nào phải chịu cảnh tang thương.— Được, sáng mai hai cha con ta sẽ lên thuyền ngược dòng Nhị Hà. — Khiêm dặn dò. — Con mau kiểm tra lại hòm mực và thẻ tre.
Tấn cúi đầu vâng dạ rồi lui ra gian ngoài. Khiêm bước ra trước thềm, toan cài then cửa gỗ lim. Chợt ánh mắt ông khựng lại. Nơi khe bậu cửa, một mảnh giấy bản màu ngà được gấp tư gài chặt một cách kín đáo. Khiêm nheo mắt rút mảnh giấy, mở ra dưới ánh đèn dầu leo lét.
Trên mặt giấy xơ xác, những dòng chữ thô kệch viết bằng than đen hiện lên đầy sát khí:Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: “Nước Tam Đái sâu vạn trượng, nuốt mạng người không nhả xương. Kẻ thư sinh chớ dại dột đem thân chôn vùi nơi bãi cát Lãng Điền.
Mau dâng sớ cáo bệnh lui về, bằng không chết không có đất dung thân!”Gió sông Nhị Hà từ phương bắc thổi thốc vào kinh thành, mang theo mùi phù sa tanh nồng và hơi nước lạnh buốt. Mai Doãn Khiêm siết chặt bức thư trong tay, đốt ngón tay trắng bệch, ánh mắt sắc lạnh như chém đá nhìn đăm đăm vào màn đêm đặc quánh.
