Chiếc gông lim nặng trịch xé gió lao tới, hai tên nha dịch mặt đằng đằng sát khí toan chụp thẳng vào cổ Mai Tấn.“Keng!”Một tiếng chát chúa vang lên giữa màn đêm. Tia lửa xẹt sáng khi lưỡi gươm trong tay Đỗ Thiết quét ngang, hất văng cả hai chiếc xích sắt cùng cạnh gông gỗ bật ngược trở lại.
Thân hình vạm vỡ của viên quân hiệu sừng sững chắn trước Mai Tấn, vết sẹo dài bên gò má trái co giật dưới ánh đuốc.— Kẻ nào dám động thủ! — Đỗ Thiết thét vang tựa sấm ran. — Mạt tướng phụng mệnh thống lĩnh cấm quân hộ đê, chỉ tuân theo kỷ cương phép nước!
Mai Tấn là người ghi chép sổ sách của ty sở, chưa tra xét công đường, cớ sao dám tự tiện dùng nhục hình ngay giữa chốn hoang vu? Kẻ nào bước thêm nửa bước, gươm này không dung! Năm cấm quân phía sau lập tức tuốt gươm dàn hàng ngang kiên cố. Hàn khí toát ra lạnh buốt khiến đám nha dịch nẹp đỏ bất giác lùi lại nửa bước.
Lê Khắc Hoàn tức tối siết chặt chiếc quạt trầm hương, khuôn mặt đẫy đà rung lên bần bật:— Đỗ Thiết! Ngươi dám tạo phản ư? Bản sứ là Chánh sứ do triều đình cắt cử, nắm quyền tại lộ Tam Đái này! Tang chứng rành rành, tên nghịch tặc họ Mai thuê người đốt kho tre hòng phá hoại đại cuộc hộ đê. Ngươi bao che cho hắn tức là đồng lõa!
Mai Doãn Khiêm bước lên một bước, tà áo chàm phần phật trong gió đêm. Ánh mắt ông sắc lẹm nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí giảo hoạt của Lê Khắc Hoàn, cất giọng đĩnh đạc:— Chánh sứ đại nhân! Miệng quan trỏ ra chữ phép, nhưng phép nước Đại Việt trọng chứng cớ chứ không dựa vào màn kịch vụng về!
Khiêm khom người nhặt chiếc khăn lụa màu lam nhạt dưới đám cỏ đẫm sương, giơ cao trước ánh đuốc sáng lòa:— Thứ nhất, chiếc khăn này là kỷ vật mẹ Tấn nhi để lại, trên vạt áo của Tấn nhi hiện vẫn còn vết rách do kẻ gian lén cắt trộm ở công đường dinh sứ cách đây ba hôm.
Thứ hai, thử hỏi thiên hạ có kẻ ngu muội nào đi thuê thích khách phóng hỏa lại hào phóng vứt cả khăn tay thêu tên mình làm tín vật? Chẳng lẽ kẻ chủ mưu lại sợ thiên hạ không biết mình phạm tội tru di? Lời lẽ đanh thép của Khiêm giáng thẳng vào sự trơ tráo của lũ gian nhân.
Ông quay phắt sang phía Trần Nham, kẻ vẫn đang nằm rạp dưới đất trước mũi gươm của Đỗ Thiết:— Trần Nham! Ngươi nói nhận hai mươi lạng bạc để đốt kho, vậy bạc ấy ở đâu? Ngươi vốn là gia nhân cưỡi ngựa theo hầu cỗ xe của Trần Bá Cửu, phu phen khắp bến Lãng Điền ai chẳng nhẵn mặt?
Con trai ta có điên rồ đến mức đi tìm tay chân của kẻ thù để mua chuộc làm việc tày trời này chăng? Trần Nham run bắn người, mồ hôi túa ra hòa cùng tro than lem luốc trên mặt.
Khiêm bước sát lại gần, giọng trầm xuống đanh thép:— Tội phóng hỏa kho vật tư quân quốc, chiếu theo Hình luật triều đình phải chịu án chém đầu thị chúng, tru di ba đời! Kẻ sai khiến ngươi đang ngồi ấm trong nhung lụa, còn ngươi sẽ phải phơi thây nơi bãi chợ!
Khai thật ra kẻ nào sai ngươi đem dầu thông đến đây, triều đình còn chước lượng giảm tội; bằng không, cái chết của vợ chồng Đinh Lục ở bãi lau sậy mấy hôm trước sẽ lập tức ứng lên đầu ngươi! Nghe nhắc đến cái tên Đinh Lục, toàn thân Trần Nham hoảng loạn co rúm lại.
Nhìn bóng kiếm lạnh ngắt của Đỗ Thiết rồi liếc sang sắc mặt biến đổi của Lê Khắc Hoàn, gã lắp bắp thất thanh:— Tha mạng! Đại nhân tha mạng! Là... là Trần trang chủ... Chính Trần trang chủ Bá Cửu đưa dầu thông bắt con làm... Chiếc khăn lụa cũng do trang chủ đưa để vu oan... Tha mạng cho con!
Lời thú tội bật ra giữa gò hoang khiến đám nha dịch xôn xao kinh hãi. Lê Khắc Hoàn nghẹn họng, cánh tay đẫy đà run rẩy buông thõng chiếc quạt trầm hương. Nước cờ hiểm độc bị Doãn Khiêm bẻ gãy ngay tại trận khiến gã vừa thẹn vừa sợ, sắc mặt xám ngoét như tro tàn.
Biết không thể cưỡng ép bắt người trước cấm quân và lý lẽ đanh thép của Khiêm, Lê Khắc Hoàn gượng gạo hắng giọng, cố vớt vát chút uy quyền sót lại:— Hừ! Lời tên ác tặc lúc hoảng loạn chưa thể vội tin! Mai Phó sứ, ngươi chớ vội đắc chí, công việc hộ đê chậm trễ thì tội của ngươi cũng chẳng nhỏ đâu! Chúng bay, lui quân!
Nói rồi, không đợi Khiêm đáp lời, Hoàn phất mạnh tay áo gấm, hậm hực dẫn đám nha dịch quay gót lẩn nhanh vào bóng đêm tăm tối. Mối nguy vu oan tạm qua, Mai Tấn sụp xuống ôm lấy cánh tay cha, giọng nghẹn ngào:— Cha... Đỗ thúc thúc... Nếu không có cha và thúc, con đã mắc mưu phường gian độc.
Doãn Khiêm đỡ con dậy, ánh mắt nhìn về phía kho vật tư ven sông vẫn còn ngùn ngụt khói đen. Đỗ Thiết tra gươm vào vỏ, sắc mặt vô cùng nặng nề:— Khiêm huynh, dẫu cứu được Mai Tấn và vạch mặt tên Trần Nham, nhưng tình thế của chúng ta đã ngàn cân treo sợi tóc. Cả ba vội vã rảo bước trở lại khu bãi kho.
Lão phu trưởng Bá Giáp tiến đón, cả thân hình phủ một lớp tro xám, đôi bàn tay gân guốc lấm lem muội than. Lão thở dài sườn sượt:— Phó sứ đại nhân! Đám cháy đã dập tắt hoàn toàn, nhưng dãy cọc cừ rào ngoài cùng và hàng trăm bó tre già phơi khô đã cháy rụi thành than. Số tre sót lại không đủ để đan nổi vài chục rọ tre bọc đá!
Lòng Khiêm nặng trĩu. Mười vạn cây tre trong kho từ trước đã bị Lê Khắc Hoàn lén lút bán sạch cho thuyền buôn hạ lưu; nay chút vật tư dự trữ cuối cùng lại bị thiêu hủy. Nhìn dòng sông Nhị Hà cuồn cuộn đỏ ngầu dưới ánh đuốc, Khiêm cảm nhận rõ từng đợt sóng ngầm hung hãn đang dập dồn xói vào chân đê Lãng Điền.
Chỉ còn nửa tuần trăng nữa là đến rằm tháng Bảy âm lịch — thời điểm lũ dữ thượng nguồn trút về khốc liệt nhất. Không có tre già đan rọ ghìm đá hộc, tuyến đê non ba mươi dặm sẽ vỡ vụn trước miệng thủy thần, năm vạn con người và hàng vạn mẫu ruộng bờ xôi ruộng mật vùng châu thổ sẽ chìm trong biển nước.— Không thể ngồi chờ chết!
— Khiêm nắm chặt ngón tay chai sần, đôi mắt rực sáng một ý chí sắt đá. — Lũy đất có thể lở, kho tre của quan có thể cháy, nhưng lũy thành trong lòng trăm họ thì không ngọn lửa nào thiêu rụi được!— Ý huynh là... — Đỗ Thiết ngạc nhiên hỏi.— Chúng ta đi tìm dân! — Khiêm dứt khoát đáp.
— Bách tính châu thổ đời đời gắn bó với đồng ruộng, họ thấu hiểu nỗi đau mất mùa, trôi nhà hơn ai hết. Ta cùng Bá thúc sẽ đến từng thôn làng giãi bày sự thật.
Trời vừa hửng sáng, sương mù trên sông Nhị Hà chưa kịp tan, Mai Doãn Khiêm cùng lão phu trưởng Bá Giáp đã lội bùn vượt qua mấy thôi đường đất nhão nhoét tìm đến các làng Lãng Điền, Bạch Hạc và Tam Dương. Tại đình làng Lãng Điền, tiếng chuông đồng gióng lên từng hồi giục giã.
Hàng trăm bô lão, tráng đinh và dân làng tụ họp đông nghịt dưới bóng cây đa cổ thụ. Đứng trước bà con trong manh áo chàm rách vai vương đầy bùn đất, Mai Doãn Khiêm không dùng khẩu khí của quan trên, mà trang trọng chắp tay cúi đầu thi lễ:— Thưa các bậc phụ lão, thưa toàn thể bà con châu thổ!
Doãn Khiêm phụng chiếu vua trông coi bờ cõi, nhưng sức mọn tài hèn, lũ sâu mọt bòn rút công quỹ, phóng hỏa kho tre hòng phá hoại công trình. Nay nước sông Nhị Hà mỗi ngày một dâng cao, mắt xoáy Lãng Điền đang khoét rỗng sườn đê. Chỉ còn mười ngày nữa là con nước ngâu tràn về.
Nếu không có tre già đan rọ bọc đá hộc ghìm chân vạc, đê quai vạc ắt vỡ tan, xóm làng ta sẽ thành bãi tha ma! Bá Giáp bước lên, nghẹn ngào tiếp lời:— Bà con ơi! Mấy tháng qua, quan Phó sứ ăn cùng mâm, ngủ cùng lán phu phen, từng nhảy xuống dòng nước xiết đào bới cứu mạng từng người trong chúng ta.
Ngài thức trắng đêm nghĩ ra kế rọ tre ghìm sóng dữ để bảo vệ bát cơm của muôn nhà. Giờ kho tre bị cháy, già này khẩn cầu bà con mở lòng cứu lấy con đê, cứu lấy chính con em chúng ta! Lời nói chân thành, gan ruột của vị quan thanh liêm và người lão phu trưởng khiến đám đông lặng đi trong giây lát.
Những giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo của các cụ già. Một bô lão râu tóc bạc phơ chống gậy bước ra, giọng run rẩy nhưng rành rọt:— Phó sứ đại nhân! Ngài vì dân mà dãi nắng dầm mưa, coi mạng dân như mạng mình, chúng tôi tiếc gì vài khóm tre cằn cỗi nơi vườn nhà!
Lũy tre làng trồng để chắn bão, nay đem chắn sóng dữ cho cả châu thổ, ấy là phúc đức muôn đời! Lời bô lão vừa dứt, một tráng đinh giơ cao chiếc rìu sáng loáng, hô vang:— Hạ tre! Mau về hạ tre cứu đê bà con ơi! Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Tiếng hô vang dậy một góc trời. Làn sóng đồng lòng lan tỏa khắp các xóm thôn ven sông.
Từ đầu làng đến cuối bãi, tiếng rìu chặt tre đôm đốp vang lên không dứt. Từng bụi tre đực, tre gai già câng, ngâm bùn không mục được người dân đồng lòng đốn ngã. Già trẻ gái trai, người gánh, kẻ kéo, từng đoàn người lũ lượt nối đuôi nhau mang theo những thân tre óng ả đổ dồn về bến Lãng Điền.
Tấm lòng vì nghĩa cả của muôn dân biến thành nguồn sức mạnh vô tận, làm sống dậy cả một vùng điền dã mênh mông. Đến xế chiều, bến Lãng Điền rực rỡ trong nắng hanh. Hàng vạn thân tre già óng ánh được kết thành những chiếc bè khổng lồ dập dềnh trên mặt sóng đỏ ngầu tựa dải trường thành nổi.
Tiếng búa nện rọ tre, tiếng hò reo của năm vạn phu dịch và bách tính vang dậy khắp đôi bờ, hào khí bừng bừng át cả tiếng gầm của sóng dữ Nhị Hà.Mai Doãn Khiêm đứng trên triền đê lộng gió, ngực trào dâng niềm xúc động thiêng liêng khi nhìn dải đê quai vạc đang từng bước thành hình từ lòng dân châu thổ.
Bỗng nhiên, từ con đường thiên lý phía hạ lưu hướng Thăng Long, bụi cát cuộn lên mù mịt giữa ráng chiều tà. Tiếng vó ngựa dồn dập tựa sấm ran xé toạc không gian tĩnh lặng. Một toán kỵ mã cấm quân khoác giáp sắt, tay giương cao lá cờ lệnh màu đỏ thêu kim tuyến phi như gió cuốn, nhằm thẳng cổng dinh Hà đê sứ xông vào!
