Đỗ Thiết vừa dứt lời mật báo, không khí trong phòng riêng bỗng đặc quánh lại. Tiếng gió sớm rít qua khe cửa gỗ lim dày cộp, mang theo hơi ẩm nồng ngái của phù sa sông Nhị Hà.Mai Doãn Khiêm đứng lặng bên án thư, đôi bàn tay quấn vải thô siết chặt mép gỗ.
Vết rách rỉ máu nơi đầu ngón tay buốt nhói không làm lay chuyển ánh nhìn kiên định của ông.— Hai kỵ mã hỏa tốc về kinh... — Khiêm trầm ngâm. — Lão tặc muốn cầu viện thế lực triều đình để bóp nghẹt chúng ta, nhưng nước xa không cứu được lửa gần.
Cuốn sổ dính máu mang triện hoa cúc đã được Tấn nhi và cấm quân cất giấu cẩn mật ở xóm chài. Chừng nào chứng cứ còn đó, Trần Bá Cửu chưa dám manh động. Đỗ Thiết siết chuôi đoản đao:— Ta tạm thời án binh bất động sao huynh?— Không! Chúng ta phải chạy đua với con nước tháng Bảy!
Dù có vạch trần mười tên Chánh sứ mà đê vỡ dân trôi, Doãn Khiêm này vẫn là kẻ có tội. Phải giữ bằng được bến Lãng Điền trước khi lũ tràn về! Sương sớm tan dần dưới ánh bình minh đỏ quạch. Khiêm cùng Đỗ Thiết rảo bước ra bến Lãng Điền.
Khúc sông ngã ba cuồn cuộn gầm réo, từng đợt sóng phù sa đập thình thịch vào vách đất non. Đứng trên mặt đê lộng gió, Khiêm cúi nhìn xuống chân vạc. Mạch ngầm bục vỡ liên tục đùn cát xốp, khoét sâu vào sườn đê thành hốc hàm ếch sâu hơn ba trượng. Từng mảng phù sa nứt toác, sụt ầm ầm xuống xoáy nước.
Chân móng đê bị rút ruột, ba tầng đá hộc biến thành cát xốp bùn non. Nếu lũ đổ về, đoạn đê ba mươi thước này sẽ toác hoác, kéo sập cả ba mươi dặm đê quai vạc.— Phó sứ đại nhân! — Lão phu trưởng Bá Giáp bước vội tới, áo tơi lấm bùn đất. — Già đã giao việc ở xóm chài cho cậu Tấn rồi tức tốc ra đây.
Nước th*c m*nh quá, cát đùn lên không dứt. Mấy thợ đá bảo đổ đá hộc rời xuống lấp hàm ếch, nhưng dòng xoáy sâu ba trượng sẽ cuốn phăng đá vụn như lá khô! Khiêm gật đầu:— Ném đá rời xuống dòng xiết chẳng khác nào muối bỏ biển; cắm cọc cừ đơn thuần thì nền cát bở cũng không giữ nổi.
Phải tìm cách ghìm một khối đá lớn dằn xuống miệng xoáy mà không bị cuồng lưu cuốn đi. Bỗng nhiên, từ mép nước bờ doi cát hạ lưu, một cảnh tượng lọt vào tầm mắt Khiêm. Đó là chiếc thuyền nan của một lão ngư đang buông lưới giữa luồng nước xiết.
Đáy sông trơn tuột, mỏ neo sắt móc không chặt, nhưng chiếc thuyền vẫn đứng sững giữa dòng cuộn. Nhìn kỹ xuống mạn thuyền, Khiêm thấy lão ngư dùng dây chão ghìm một chiếc đăng tre đan dày hình sọt, bên trong nhồi chặt đá hộc thả chìm làm quả dằn.
Sọt tre ngậm đá bám chặt đáy cát, dòng nước xiết luồn qua nan tre mà không thể xô lệch chiếc thuyền dù chỉ nửa thước. Một tia sáng lóe lên trong tâm trí Mai Doãn Khiêm. Nếu cải tiến thành những rọ tre hình mắt cáo lồng nhiều lớp bọc chặt đá hộc thả xuống hốc xoáy ngầm thì sao?
Nan tre già dẻo dai bọc đá nặng hàng chục thạch sẽ cắm sâu vào đáy bùn. Mắt cáo cho nước chảy xuyên qua để triệt tiêu lực xói, lại giữ phù sa bồi đắp lấp đầy khe đá, biến rọ tre thành bức lũy ngầm ken đặc tựa bàn thạch!— Ta có cách rồi! — Khiêm quay ngoắt lại, giọng sang sảng. — Bá lão trượng! Đỗ đệ! Mau theo ta!
Tại bãi đất trống đầu bến Lãng Điền, Khiêm tập hợp những thợ đan lát khéo tay. Ông ngồi thụp xuống, vạch lên mặt cát hình dạng chiếc rọ hình trụ dài một trượng, đường kính hơn ba thước:— Ta không dùng sọt nông, mà đan rọ dài hình ống! Nan tre lấy từ cật tre già ngâm nước đủ tuần, vót bản rộng nửa tấc.
Đan thế mắt cáo lồng ba lớp ken dày, để đá hộc không lọt ra ngoài nhưng nước phù sa vẫn luồn qua được! Nói là làm, Khiêm cởi áo ngoài, vén cao tay áo thô. Mặc cho hai bàn tay quấn vải thô còn rỉ máu, ông cầm dao rựa thoăn thoắt chẻ gióng tre, vót từng đường nan cật bóng loáng.
Thấy quan Phó sứ đích thân vót nan cùng dân phu, Bá Giáp hô lớn một tiếng, hàng chục tráng đinh lập tức ùa vào ghìm tre, chẻ lạt. Dưới sự chỉ dẫn của Khiêm, chiếc rọ tre mẫu đầu tiên dần thành hình: nan cật đan lồng ba lớp mắt cáo, bền chắc và dẻo dai khôn cùng.— Đưa đá hộc lại đây! — Khiêm gạt mồ hôi trên trán, hô lớn.
Hàng chục phu đá khiêng những tảng đá hộc xám xanh nhét chặt vào lòng rọ. Khi đá nêm chặt cứng, Khiêm cùng Bá Giáp dùng lạt tre bện xoắn đôi khóa chặt hai đầu. Chiếc rọ tre ngậm đầy đá hộc nặng hơn ba mươi thạch, sừng sững tựa khối sắt dằn sông. Đỗ Thiết điều động hai thuyền tải lớn cập bến.
Mười tráng đinh gồng mình chuyển rọ tre ngậm đá lên thuyền, chèo thẳng ra khúc cua bến Lãng Điền. Tại hốc xoáy ngầm, dòng nước vẫn sùng sục sôi bọt đỏ ngầu. Khiêm đứng ở mũi thuyền, cầm ngọn cờ lệnh màu chàm:— Thả dây néo bên tả! Nhắm thẳng miệng hàm ếch... Thả! Tấm cờ vung xuống.
Chiếc rọ tre bọc đá hộc nặng trịch lao thẳng xuống lòng sông sâu ba trượng. Một tiếng động trầm đục vang lên, cột nước phù sa bắn vọt rồi lắng lại. Khiêm lập tức cầm sào tre dài ba trượng buộc quả dọi bằng chì thả chìm xuống hốc xoáy dò xét. Đầu sào chạm đáy nước, truyền lên tay tiếng “cộc” đanh chắc.
Luồng xoáy ngầm hung bạo khi thúc vào rọ đá liền bị chia cắt thành từng dòng nhỏ qua kẽ mắt cáo, lực xói lở bị triệt tiêu hoàn toàn. Chiếc rọ tre ngậm đá cắm phập vào đáy cát xốp, tựa mỏ neo khổng lồ ghìm chặt chân vạc, chặn đứng miệng hàm ếch đang sụt lở!
Bá Giáp áp tay vào sào tre cảm nhận độ rung đáy sông, kinh ngạc reo lên:— Đứng vững rồi! Phó sứ đại nhân, rọ đá cắm chặt vào chân móng rồi! Dòng xoáy không xô đi được một tấc nào! Tiếng reo hò từ thuyền tải lan nhanh vào bờ.
Hàng ngàn dân phu đứng trên thân đê đồng loạt vỗ tay hoan hô vang dội cả khúc sông Nhị Hà:— Cứu được đê rồi! Quan Phó sứ tìm ra kế ghìm sóng dữ rồi! Rút sào tre lên mạn thuyền, Khiêm thở phào một hơi dài giữa làn gió sông lồng lộng. Nhưng ánh mắt ông nhanh chóng đanh lại khi nhìn dọc ba mươi dặm đê quai vạc.— Đỗ đệ!
Bá lão trượng! — Khiêm bảo Thiết và Giáp, giọng quả quyết. — Một rọ tre chỉ cứu được một thước chân vạc. Toàn tuyến đê có ba mươi dặm, những nơi hiểm yếu có tới hàng trăm mắt xoáy ngầm.
Muốn đê đứng vững trước kỳ đại hồng thủy tháng Bảy, chúng ta cần ít nhất mười vạn cây tre già và toàn bộ số đá hộc còn lại trong kho triều đình để ngày đêm đan rọ!— Đệ sẽ cùng huynh tới kho vật tư dinh sứ lấy lệnh xuất tre ngay bây giờ! — Đỗ Thiết dõng dạc.
Nửa khắc sau, Khiêm và Thiết tới kho vật tư trung tâm công trường. Thế nhưng, trước cổng kho đóng then cài chặt chẽ, chẳng hề có bóng dáng một cây tre nào. Chỉ có viên nha lại coi kho tên Trần Thăng — tay chân thân tín của Chánh sứ Lê Khắc Hoàn — đang ngồi vắt chân chữ ngũ trên phản gỗ, nhởn nhơ nhai trầu.
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Thấy Khiêm chìa sắc lệnh đòi mở kho xuất mười vạn cây tre, Trần Thăng không thèm đứng dậy, chỉ nhếch mép cười khẩy, buông một câu lạnh lùng:— Mai Phó sứ đến muộn rồi.
Toàn bộ mười vạn cây tre già và nứa cọc trong kho công trường đã được Chánh sứ đại nhân ký giấy xuất bán sạch cho thương buôn hạ lưu từ ba hôm trước! Hiện giờ trong kho... đến một mảnh nan tre mục cũng chẳng còn!
