Sau cuộc đối thoại căng thẳng với Chu Thừa Lân, Hạ Cầm Thanh không hề dừng bước. Ngược lại, những lời nói của hắn càng khiến nàng nhận ra thời gian của mình không còn nhiều. Khi một vị Hộ Bộ Thị Lang đã đích thân đến cảnh cáo, điều đó có nghĩa là guồng quay của triều đình đang chuẩn bị có những động thái tàn khốc để xóa sổ những nhân chứng cuối cùng.Nàng quyết định hành động quyết liệt hơn. Nàng tìm gặp Thẩm Yến Thanh, và hai người đưa ra một quyết định điên rồ, rời khỏi kinh thành Trường An phồn hoa, đi ngược lên phía Bắc, hướng thẳng đến huyện Thanh Bình, phủ Hà Bắc, nơi chín năm trước từng là tâm điểm của trận đại hạn hán, hay nói đúng hơn, là nấm mồ chung của hàng vạn dân nghèo.Chuyến đi này không có ngựa xe rầm rộ, không có hộ vệ đi kèm như những chuyến tuần du của quan lại. Chỉ có hai kẻ yếu thế, một người phụ nữ yếu đuối vừa ly hôn và một vị văn sĩ mang bệnh nặng trong người. Trên lưng họ đeo hai cái gùi tre nặng trịch đựng đầy giấy trắng, nghiên mực và lương khô thô sơ. Họ đi qua những con đường mòn hoang vu, gió lạnh phương Bắc thổi rát mặt, vạt áo bông thô của họ bị gai cào rách từng vệt dài nham nhở.Khi đặt chân đến địa giới huyện Thanh Bình, đập vào mắt Hạ Cầm Thanh không phải là cảnh tượng ruộng đồng trù phú sau chín năm phục hồi như những gì Hộ bộ báo cáo, mà là một sự hoang tàn, tiêu điều đến rợn người.Nhiều thôn làng nằm dọc theo các triền đồi hoàn toàn trống không, những mái nhà tranh sụp đổ hoàn toàn, cỏ dại mọc cao quá đầu người, che khuất cả lối đi. Nơi đây không hề có dấu vết của một trận dịch bệnh tàn phá, vì nếu là dịch bệnh, nhà cửa quần áo của người chết sẽ bị thiêu hủy để tránh lây lan. Ở đây, mọi thứ vẫn nguyên vẹn, chỉ có con người là biến mất. Ngoài đồng hoang, dọc theo các con mương cạn trơ đáy, có vô số những hố chôn tập thể vô danh nằm rải rác khắp mọi nơi. Những tấm bia mộ bằng gỗ cắm vội năm xưa giờ đây đã mục nát, bị mối mọt ăn mòn, không còn sót lại bất kỳ một dòng chữ nào. Những con người nằm dưới lòng đất kia, không một ai biết họ tên gì, bao nhiêu tuổi, vì sao lại chết.Họ đi sâu vào trong một thung lũng hẻo lánh, tìm đến một ngôi làng nhỏ chỉ còn sót lại chưa đầy năm hộ dân sống tiêu điều. Trong một căn nhà đất rách nát, tường nứt toác hứng từng luồng gió lùa, họ gặp một bà lão mù cả hai mắt, tai đã nghễnh ngãng, toàn thân gầy gò như một bộ xương khô khoác áo vải thô, đang ngồi co quắp bên bếp lửa tàn không còn một chút hơi ấm.Thẩm Yến Thanh quỳ xuống nền đất đầy bụi bặm bên cạnh bà lão, ghé sát tai bà, dịu dàng hỏi về những chuyện đã xảy ra vào mùa đông năm Vĩnh Gia thứ mười hai. Khi nghe thấy mấy chữ “Năm Vĩnh Gia thứ mười hai”, cơ thể già nua của bà lão bỗng nhiên run lên bần bật như gặp phải một cơn ác mộng kinh hoàng nhất đời. Đôi bàn tay khô gầy, chằng chịt những đường gân xanh của bà quờ quạng điên cuồng trong không khí, miệng lắp bắp những âm thanh vô nghĩa.Bà lão sụt sịt khóc, nước mắt chảy qua những rãnh nhăn sâu hoắm trên khuôn mặt mù lòa. Bà run rẩy bò vào trong buồng trong, dùng đôi bàn tay cào bới dưới đáy của một hũ gạo cũ kỹ đã trống rỗng từ lâu, lôi ra một bọc vải thô rách nát. Bọc vải ấy được bọc bằng rất nhiều lớp lá chuối khô đã úa vàng, buộc chặt bằng dây đay để chống ẩm mốc. Khi Hạ Cầm Thanh cẩn thận đỡ lấy và mở từng lớp vải ra, bên trong hiện ra một cuốn sổ chép tay bằng loại giấy bản thô ráp, rẻ tiền nhất mà nông dân thường dùng. Mực viết không phải là mực thỏi quý giá, mà là thứ mực tự chế từ than bếp giã nhỏ trộn với nước lòng trắng trứng.Trên những trang giấy thô ráp ấy là những cái tên được viết dày đặc.“Đây là… cái gì vậy bà?” Hạ Cầm Thanh nghẹn ngào hỏi, lồng ngực nàng đau thắt lại.“Tên… tên của tụi nó, tên của cả cái làng này.” Bà lão khóc không ra tiếng, giọng nói khàn đặc như tiếng lá khô cọ vào nhau trong gió chướng. “Năm đó, thiên tai đến, không có một hạt gạo cứu tế nào về đến làng. Người chết nằm đầy đường. Rồi quan trên từ Kinh thành dẫn binh lính tới, bọn họ tịch thu hết sạch sổ hộ tịch của làng, đốt ngay trước đình làng. Bọn họ nói trên đời này không có ai chết đói hết, ai dám mở miệng nói hai chữ ‘chết đói’ là phạm tội phỉ báng triều đình, làm loạn, sẽ bị chém đầu ngay tại chỗ. Trước khi con trai ta nhắm nghiền mắt vì đói, nó đã dùng than bếp làm mực, cố sống cố chết ghi lại tên của từng người trong làng đã nằm xuống. Nó đưa cho ta, bảo rằng: ‘Mẹ phải giữ lấy, giấu cho kỹ, đừng để bọn họ xóa mất chúng con, đừng để bọn họ quên…’.”Hạ Cầm Thanh lật mở từng trang giấy thô ráp. Chữ viết trong sổ rất nguệch ngoạc, nét chữ run rẩy, sai chính tả rất nhiều, chứng tỏ người con trai của bà lão không được học hành đến nơi đến chốn. Nhưng mỗi một cái tên đều được ghi chép kèm theo tuổi tác, ngày mất và vị trí chôn cất cụ thể ngoài đồng hoang.“Trương Đại, hai mươi mốt tuổi, chết đói bên bờ sông cạn.” “Nguỵ thị, ba mươi tuổi, chết đói cùng đứa con ba tháng tuổi vẫn đang ngậm b** v* khô trong tay.” “Lý Mộc Nha, bốn tuổi, chết vì ăn quá nhiều đất quan âm…”Trang giấy thấm đẫm những vết dầu mỡ, vết mồ hôi và cả những vệt máu khô cũ kỹ từ chín năm trước. Số lượng cái tên trong cuốn sổ của một ngôi làng nhỏ này đã lên đến hơn hai trăm con người. Mà trên khắp cõi Hà Bắc rộng lớn này, có biết bao nhiêu ngôi làng, bao nhiêu huyện lỵ đã bị xóa sổ giống như nơi đây?Hạ Cầm Thanh chợt nhận ra một sự thật kinh hoàng và đáng sợ nhất về quyền lực. Quyền lực tối cao không phải là thứ có thể dễ dàng tước đoạt mạng sống của con người bằng gươm đao. Điều đáng sợ nhất là nó có thể bạo ngược xóa sạch hoàn toàn dấu vết tồn tại của họ sau khi họ chết. Những con người này đã từng sinh ra trên đời, đã từng có tên gọi, đã từng đau đớn, tuyệt vọng và khóc lóc. Nhưng trong dòng chảy vĩ đại của quốc sử triều đình, họ chỉ là một con số 0 tròn trĩnh, hoặc là một cái cớ “dịch bệnh” đầy tính nhân đạo để giữ sạch thanh danh cho các bậc vương hầu.“Thẩm đại nhân.” Hạ Cầm Thanh nhìn Thẩm Yến Thanh, nước mắt nàng rơi lã chã, thấm ướt cả những nét chữ được viết bằng than bếp thô sơ. “Chúng ta phải mang cuốn sổ này về Kinh thành.”Thẩm Yến Thanh gật đầu, sắc mặt hắn xanh mét, hơi thở đứt quãng vì giá lạnh phương Bắc đang gặm nhấm buồng phổi bệnh tật, nhưng ánh mắt hắn lại kiên định, sáng rực lên một cách lạ lùng.“Mang về Trường An. Chúng ta sẽ chép lại toàn bộ những cái tên này vào bản thảo chép tay của chúng ta. Lịch sử không được phép quên họ.”Trong suốt chuyến hành trình gian khổ trở về Kinh thành, họ gặp không ít hiểm nguy. Có những đêm, khi đi qua các trạm kiểm soát nghiêm ngặt của quan phủ dọc đường, binh lính lục soát hành lý rất gắt gao. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi tình thế ngàn cân treo sợi tóc, khi chiếc gùi chứa cuốn sổ sắp bị phát hiện, một vị tướng lĩnh cấp cao của trạm kiểm soát lại đột ngột xuất hiện. Vị tướng ấy nhìn Hạ Cầm Thanh bằng một ánh mắt vô cùng phức tạp, thở dài một tiếng rồi vẫy tay ra lệnh cho binh lính cho họ đi qua mà không cần kiểm tra thêm.Ban đầu Hạ Cầm Thanh ngỡ là may mắn, nhưng đến một đêm nghỉ chân tại một ngôi miếu hoang, khi sắp xếp lại đồ đạc trong gùi, nàng vô tình tìm thấy ở góc sâu nhất một chiếc thẻ bài bằng ngọc thạch màu đen, trên đó khắc một chữ “Chu” rất nhỏ nhưng uy nghiêm, đó chính là thẻ bài của phủ Hộ Bộ Thị Lang. Chiếc thẻ bài này đã được ai đó bí mật nhét vào gùi của nàng từ trước khi nàng rời khỏi Trường An.Chu Thừa Lân vẫn luôn dõi theo nàng. Hắn sợ hãi sự thật, hắn không dám tự tay lật lại vụ án vì tương lai của gia tộc và bản thân, hắn chọn cách đứng trong hệ thống để bảo vệ vương quyền. Nhưng từ sâu trong bóng tối, hắn đã dùng thứ quyền lực tối cao, tàn bạo của mình để âm thầm dọn đường, bảo vệ mạng sống cho nàng, giống như một kẻ tội đồ đang cố gắng nhặt nhạnh chút lương tâm còn sót lại để chuộc lỗi với người nữ tử hắn yêu. Hắn là một kẻ hèn nhát nhưng tỉnh táo đứng trong hệ thống, hắn thà để bản thân mình dơ bẩn, chứ không muốn nhìn thấy người phụ nữ duy nhất dám sống thật với lòng mình phải phơi thây nơi đồng hoang ngoài kia.---Mùa xuân năm Vĩnh Gia thứ hai mươi mốt, Kinh thành Trường An đón nhận một sự kiện trọng đại nhất trong vòng mười năm trở lại đây. Triều đình chính thức khởi công biên soạn bộ “Đại Đường Vĩnh Gia Thực Lục” – bộ quốc sử chính thức, tối cao ghi lại toàn bộ những sự kiện, công trạng và biến cố trong suốt thời kỳ trị vì của Hoàng đế đương triều.Đối với những người làm việc trong hệ thống như Thẩm Yến Thanh, họ đều hiểu rõ luật lệ đáng sợ sau khi bộ thực lục này hoàn thành. Một khi bộ quốc sử mới được thông qua, được Hoàng đế ngự bút phê chuẩn và khắc vào bản gỗ để in ấn ban bố khắp thiên hạ, thì tất cả các hồ sơ gốc, ghi chép tạm thời, bản thảo địa chí và tài liệu tham khảo cũ ở tất cả các nha môn, bao gồm cả thư khố bí mật của Hàn Lâm Viện sẽ bị tịch thu hoàn toàn và đem đi thiêu hủy một cách hợp pháp. Lý do là để “tránh làm nhiễu loạn chính thống, không để những thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến nhận thức của đời sau”.Sự thật về nạn đói Hà Bắc năm xưa sẽ bị đóng đinh vĩnh viễn dưới lớp mực vàng son, dưới những lời ca tụng vĩ đại của hoàng gia. Sự thật sẽ mãi mãi biến mất một cách hợp pháp khỏi cõi đời này.Thẩm Yến Thanh hớt hải chạy đến Khô Mộc Đường vào một đêm muộn, mang theo một tin tức động trời.“Hoàng đế đã hạ chỉ, người được giao trọng trách Tổng quản Biên soạn bộ thực lục lần này không ai khác chính là Chu Thị Lang. Tất cả những hồ sơ gốc, những tờ giấy Thanh Đằng còn sót lại của năm Vĩnh Gia thứ mười hai đã được binh lính Hộ bộ gom sạch sẽ, đưa về mật thất của Sử quán.”Đêm đó, giữa lúc ngoài phố Kinh kỳ đang xôn xao treo đèn kết hoa chuẩn bị cho ngày đại lễ công bố bộ quốc sử, Chu Thừa Lân lại xuất hiện một lần nữa tại tiệm sửa sách Khô Mộc Đường. Lần này, hắn không đi chiếc xe ngựa sang trọng có binh lính bao quanh, mà chỉ mặc một bộ thường phục bằng vải thô màu xám tro đơn giản, đứng im lặng dưới ánh đèn dầu leo lét, cô độc của tiệm sách.“Hoàng đế biết tất cả mọi chuyện. Từ chín năm trước, ông ấy đã biết rõ mọi chuyện rồi.” Chu Thừa Lân nhìn Hạ Cầm Thanh, giọng nói của hắn trống rỗng, khàn đặc như một người vừa bước ra từ một trận đại chiến sinh tử.Hạ Cầm Thanh ngước đầu lên nhìn hắn, ánh mắt nàng tĩnh lặng nhưng lạnh băng.“Cả chuyện năm đó không hề có dịch bệnh, mà là hàng vạn bách tính đã ăn đất quan âm rồi chết dọc đường? Hoàng đế cũng biết chuyện này sao?”“Phải, ông ấy biết rất rõ.” Chu Thừa Lân cười, nụ cười đầy sự chát đắng và tự giễu của một kẻ đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng nhận ra mình cũng chỉ là một trò đùa. “Năm đó, biên cương phía Tây đang có chiến tranh khốc liệt với Thổ Phạn, quân đội triều đình cần hàng vạn thạch lương thực mỗi tháng. Quốc khố căng thẳng đến mức cực hạn, lòng dân ở Kinh kỳ và các vùng phụ cận đang dao động dữ dội. Nếu lúc đó triều đình đứng ra thừa nhận Hà Bắc đang có nạn đói lớn, thừa nhận các kho lương thực dự trữ của quốc gia đã bị quan lại địa phương cấu kết với gian thương ăn chặn, tham ô đến mức trống rỗng… thì dân chúng cả nước sẽ bạo loạn, lòng quân ở tiền tuyến sẽ sụp đổ, quân Thổ Phạn sẽ tràn vào Kinh thành, nước sẽ mất, nhà sẽ tan. Hoàng đế đã chọn cách giấu nhẹm sự thật, chọn cách hy sinh vài vạn dân nghèo ở Hà Bắc để đổi lấy sự ổn định của cả một giang sơn. Cầm Thanh, đây không còn là chuyện đúng sai, thiện ác đơn giản của một vài vị quan tham ô nữa. Đây là… lý tính lạnh lùng của một quốc gia.”Hắn bước đến gần nàng hơn, hai bàn tay áp mạnh xuống cạnh bàn gỗ, nhìn sâu vào đôi mắt trong trẻo của nàng, giọng nói như nghẹn lại ở cổ họng.“Nếu bây giờ cho ta quay lại năm hai mươi ba tuổi đó, đứng trước sự lựa chọn giữa một bên là nói ra sự thật để rồi cả gia tộc nhà họ Chu bị kéo xuống, lòng dân đại loạn, giang sơn sụp đổ; và một bên là im lặng ký vào bản báo cáo giả để sống sót, để leo lên vị trí ngày hôm nay… Cầm Thanh, ta nói thật cho nàng biết, ta vẫn sẽ chọn cách ký tên. Ta không thể làm anh hùng, ta phải làm một vị Hộ Bộ Thị Lang giữ vững đại cục này.”Hạ Cầm Thanh chết lặng, nàng nhìn người đàn ông trước mặt, cảm thấy khoảng cách giữa hai người giờ đây không chỉ là một bức tường cao vút của phủ Hộ Bộ Thị Lang, mà là cả một con sông dài vô tận được lấp bằng xương máu của những con người vô danh và những lý lẽ lạnh lùng, tàn nhẫn của vương quyền.“Ta biết.” Giọng nàng nhỏ như tiếng muỗi kêu, nhưng kiên định vô cùng. “Ngài là Hộ Bộ Thị Lang đương triều. Ngài phải nghĩ cho thiên hạ vĩ đại của Hoàng đế. Còn ta, ta chỉ là một người sửa sách cũ, ta chỉ nhìn thấy những cái tên được viết bằng than bếp đang mờ dần.”“Nhưng…” Chu Thừa Lân bỗng nhiên hạ giọng xuống thấp nhất, đôi bàn tay hắn run lên nhè nhẹ, một sự dao động lớn nhất trong cuộc đời làm quan của hắn lộ ra. Hắn lấy ra một chùm chìa khóa bằng đồng đen cổ kính, thô ráp từ trong tay áo rộng, nhẹ nhàng đặt lên chiếc bàn gỗ trước mặt nàng. “Lần này… ta không muốn nàng cũng phải học cách im lặng và cúi đầu giống như ta năm xưa nữa.”Hạ Cầm Thanh kinh ngạc nhìn chùm chìa khóa đồng đen: “Đây là…?”“Chìa khóa cửa ngách dẫn thẳng vào mật thất của Sử quán.” Chu Thừa Lân quay lưng đi, không dám nhìn vào chùm chìa khóa ấy nữa, như thể nếu nhìn thêm một giây, sự tỉnh táo của một vị Hộ Bộ Thị Lang sẽ bắt hắn phải thu hồi nó lại ngay tức khắc. “Ba ngày nữa, sau khi ta đích thân kiểm tra xong bản thảo quốc sử cuối cùng, Sử quán sẽ ra lệnh niêm phong toàn bộ thư khố để chuẩn bị thiêu hủy toàn bộ tài liệu tham khảo cũ vào sáng hôm sau. Đêm đó, lực lượng canh gác ở cửa ngách sẽ lỏng lẻo nhất, vì ta đã điều động một nửa binh lính đi tuần tra ở vòng ngoài.”Hắn dừng lại ở ngưỡng cửa, bóng lưng cao lớn đứng giữa ranh giới của ánh đèn trong tiệm và bóng tối của gió tuyết ngoài kia, giọng nói trầm buồn vang lên:“Cầm Thanh, ta là người của hệ thống này, ta nhận bổng lộc của triều đình, ta phải cùng sống chết với những lời nói dối ấy để giữ vững giang sơn. Ta không thể giúp nàng chép lại sử sách thật, ta cũng không thể đứng ra làm chứng trước thiên hạ. Nhưng nàng… nàng là người sửa sách. Hãy đi vá lại những gì mà ta và triều đình này đã xé bỏ.”Nói xong, hắn dứt khoát bước vào màn đêm đầy gió tuyết, không một lần quay đầu lại. Hạ Cầm Thanh nhìn chùm chìa khóa đồng đen trên bàn, nàng hiểu rằng, đây là món quà định mệnh, là lời thú tội và cũng là sự tôn trọng lớn nhất mà Chu Thừa Lân dành cho nàng. Hắn dùng chính tương lai, sinh mạng của mình để đặt cược vào một lần lựa chọn của nàng.----Đêm ngày mười lăm tháng Chạp, một trận cuồng phong kèm theo tuyết lớn chưa từng có trong vòng mười năm qua đổ ập xuống kinh thành Trường An. Gió rít gào qua các khe cửa, tiếng trống canh từ lầu trống vang lên trầm đục, đứt quãng giữa đêm đông tĩnh mịch, hoang vu.Tòa nhà Sử quán của Hàn Lâm Viện chìm trong bóng tối dày đặc, lầm lỳ như một con quái vật bằng đá khổng lồ. Bằng chùm chìa khóa đồng đen của Chu Thừa Lân, Hạ Cầm Thanh và Thẩm Yến Thanh lặng lẽ lách qua cánh cửa ngách nhỏ hẹp, khuất sau bụi trúc già. Đi theo sau họ là ba vị thư sinh trẻ tuổi đều là những người học trò nghèo, những người từng được Hạ Cầm Thanh giúp vá sách miễn phí để đi thi khoa cử, những người trong lòng vẫn còn giữ nguyên vẹn sự phẫn nộ và dòng máu nóng của tuổi trẻ trước những bất công của cuộc đời.Họ bước vào bên trong mật thất của Sử quán. Nơi đây chất đầy những giá gỗ cao ngất ngưởng, chứa hàng vạn cuộn hồ sơ, mùi giấy cũ mốc meo và mùi mực nồng nặc xộc thẳng vào mũi. Trên chiếc bàn gỗ lớn đặt ở chính giữa căn phòng, tập hồ sơ gốc bằng giấy Thanh Đằng của năm Vĩnh Gia thứ mười hai nằm chơ vơ, lạnh lẽo dưới lớp bụi mỏng. Bên cạnh nó là cuốn sổ tay thô ráp chép bằng than bếp của người con trai bà lão mù ở Hà Bắc mà Hạ Cầm Thanh đã liều mạng mang về.Họ không nói một lời thừa thãi, bởi họ hiểu rõ tính chất ngàn cân treo sợi tóc của đêm nay. Ba ngọn đèn dầu nhỏ được thắp lên, đặt ở góc khuất của bàn, xung quanh được che chắn kỹ lưỡng bằng những tấm vải đen dày để không một tia sáng nào có thể lọt qua khe cửa sổ ra ngoài.Hạ Cầm Thanh nhận nhiệm vụ mài mực, đôi bàn tay nàng lên xuống đều đặn, nhịp nhàng trên nghiên đá cổ. Thẩm Yến Thanh với đôi mắt sáng rực, lật mở từng trang hồ sơ gốc bằng giấy Thanh Đằng. Ba vị thư sinh trẻ tuổi đồng loạt nhấc bút, nét chữ của họ hối hả chạy trên những trang giấy trắng tinh mà họ mang theo.Họ đang thực hiện một cuộc chạy đua khốc liệt với thời gian, chạy đua với ngọn lửa quyền lực sắp sửa thiêu rụi toàn bộ sự thật vào sáng ngày mai. Họ không phải là những vị tướng quân có gươm đao trong tay để lật đổ một triều đại, họ cũng không nghĩ mình có thể cứu vớt được cả thiên hạ rộng lớn ngoài kia. Họ chỉ có một ý nghĩ duy nhất, thuần khiết và cố chấp nhất. Phải chép lại, phải lưu lại một bản sao chân thực nhất của lịch sử, để những cái tên của những người dân nghèo chết vì đói kia không bị biến thành tro bụi, để đời sau biết rằng họ đã từng sống đau đớn và chết đi trên mảnh đất này.“Khụ… khụ khụ…” Thẩm Yến Thanh bỗng nhiên ho khan dữ dội. Hắn vội vã lấy chiếc khăn tay bằng vải thô bịt chặt lấy miệng mình để ngăn tiếng động phát ra ngoài. Khi hắn lấy khăn ra, dưới ánh đèn dầu mờ ảo, một màu máu tươi chói mắt, đỏ rực đã nhuốm đẫm tấm khăn trắng. Căn bệnh kinh niên của hắn đã bước vào giai đoạn cuối cùng, chuyến đi gian khổ lên Hà Bắc vừa rồi đã vắt kiệt chút sinh mệnh ít ỏi còn sót lại của vị văn sĩ gầy gò này.“Thẩm đại nhân, ngài nghỉ ngơi đi, để ta lật sách cho.” Hạ Cầm Thanh hốt hoảng, định giữ lấy bờ vai đang run lên của hắn.Thẩm Yến Thanh nhẹ nhàng nhưng dứt khoát đẩy tay nàng ra. Hắn nở một nụ cười nhợt nhạt, gương mặt trắng bệch vì mất máu nhưng đôi mắt hắn lúc này lại lấp lửng những tia sáng thanh thản, tự hào chưa từng có.“Hạ nương tử, cả đời này ta nhút nhát, sống nơi nha môn Hàn Lâm Viện đều là gọi dạ bảo vâng, khúm núm cúi đầu trước tất cả mọi người, sống chẳng khác nào một con chuột nhắt trốn trong xó tối bẩn thỉu. Chỉ có đêm nay… chỉ có đêm nay đứng ở đây, ta mới thực sự thấy mình là một quan chép sử đúng nghĩa, xứng đáng với những trang sách thánh hiền. Nếu đêm nay chúng ta không chép lại những cái tên này, họ sẽ thật sự chết oan uổng, chết mà như chưa từng được sinh ra. Để ta làm… ta phải tự tay chứng kiến những cái tên này được sống lại trên giấy.”Ngón tay hắn run rẩy vì lạnh và đau đớn, nhưng từng nét chữ, từng cử chỉ lật sách của hắn lại vô cùng dứt khoát, cứng cỏi.Cùng lúc đó, tại điện Thái Hòa nguy nga tráng lệ trong nội đình cung cấm, Chu Thừa Lân đang một mình đối mặt với Hoàng đế và bách quan trong buổi yến tiệc cuối năm. Nơi đây rực rỡ ánh đèn hoa, rượu quỳnh tương bạt mạng, tiếng nhạc sáo rộn ràng.Vị Thượng thư nhạc phụ tương lai của hắn cùng các đại thần sĩ tộc liên tục đứng dậy, dùng chén rượu để ép hắn ký vào tờ trình quyết toán việc biên soạn bộ thực lục, nhằm mục đích định ngay ngày giờ thiêu hủy toàn bộ tài liệu cũ vào sáng sớm mai để tránh đêm dài lắm mộng. Chu Thừa Lân đứng giữa đại điện, gương mặt bình thản như nước hồ thu, hắn dùng đủ mọi lý lẽ sắc bén của một vị Hộ Bộ Thị Lang. Từ việc phát hiện ra vài sai sót nhỏ trong cách dùng chữ của bản thảo cần phải đối chiếu lại, cho đến việc phải chờ đến giờ lành hợp phong thủy của Khâm Thiên Giám mới được phép đóng rương niêm phong. Một mình hắn, bằng tài hùng biện và uy nghiêm của mình, đã đơn độc đối đầu với bách quan, kéo dài thời gian, kéo dài từng khắc, từng canh giờ một cho những ngọn đèn dầu đang âm thầm cháy giữa chốn Sử quán hoang lạnh ngoài kia.Hoàng đế ngồi trên ngai vàng chạm rồng, đôi mắt già nua, sắc bén như chim ưng nhìn xuống Chu Thừa Lân đang đứng dưới điện. Ánh mắt của thiên tử chứa đựng một sự thấu tỏ đáng sợ đến mức đóng băng người khác. Hoàng đế biết Chu Thừa Lân đang cố tình trì hoãn, ông ta biết vị Hộ Bộ Thị Lang trẻ tuổi này đang làm một chuyện đại kỵ sau lưng mình. Nhưng Hoàng đế cũng hiểu rõ, Chu Thừa Lân là kẻ tỉnh táo, hắn sẽ không bao giờ bước qua ranh giới cuối cùng là công khai phản nghịch lật đổ triều đình. Đây là một trò chơi tâm lý ngầm, một sự thỏa hiệp ngầm tàn nhẫn giữa vị thiên tử tối cao và vị Thị lang tài ba của mình.Trở lại mật thất Sử quán, đêm đã về khuya, tiếng trống canh bốn vang lên. Bản sao thực lục chép tay dài hàng vạn chữ, chứa đựng toàn bộ sự thật về nạn đói Hà Bắc đã hỏa tốc hoàn thành được hơn hai phần ba Đột nhiên, từ phía sân ngoài của Sử quán vang lên những tiếng bước chân dồn dập, rầm rộ của giày lính dẫm lên nền tuyết, đi kèm với đó là tiếng vũ khí, giáp sắt va chạm vào nhau vang lên chói tai.“Có kẻ đột nhập vào thư khố Sử quán! Mau bao vây toàn bộ các lối ra vào! Tra xét lập tức!” Tiếng quát lớn của vị Thống lĩnh cấm quân vang lên phá tan màn đêm tĩnh mịch.Một vị thư sinh trẻ tuổi hoảng hốt đến mức đánh rơi cả cây bút lông xuống bàn khiến mực đen văng tung tóe: “Chúng ta… chúng ta bị phát hiện rồi! Cấm quân đã vào đến sân trước!”Thẩm Yến Thanh nhìn Hạ Cầm Thanh, ánh mắt hắn bỗng nhiên trở nên vô cùng bình tĩnh, không một chút sợ hãi hay hốt hoảng của một kẻ sợ chết thường ngày. Hắn gom toàn bộ tập bản thảo chép tay đã hoàn thành được hai phần ba kia, cuộn chặt lại rồi nhét mạnh vào trong ngực áo bông rộng của Hạ Cầm Thanh. Sau đó, hắn dùng hết sức lực còn lại của cơ thể mang bệnh, đẩy mạnh nàng và ba vị thư sinh về phía mật đạo tối tăm thông ra chiếc giếng cạn bỏ hoang ở phía sau vườn trúc. Đây chính là con đường thoát hiểm duy nhất mà Chu Thừa Lân đã dặn dò nàng trước đó.“Đi mau! Mang theo tập bản thảo này bước ra khỏi đây!” Thẩm Yến Thanh quát khẽ, giọng nói đầy vẻ nghiêm túc.“Còn ngài thì sao? Thẩm đại nhân, cùng đi đi!” Hạ Cầm Thanh giàn giụa nước mắt, nàng nắm chặt lấy tay áo sờn cũ của hắn, không muốn buông bỏ người này.“Ta không chạy nổi nữa, phổi của ta đã hỏng rồi, có ra ngoài cũng chỉ sống thêm được vài ngày trong cảnh trốn chui trốn lủi.” Thẩm Yến Thanh nở một nụ cười rạng rỡ nhất cuộc đời mình. Hắn cầm lấy ngọn đèn dầu đang cháy trên bàn, không một chút do dự, ném mạnh vào những chồng hồ sơ ngụy tạo, những tờ giấy Thanh Đằng đẹp đẽ của triều đình ở bên cạnh.Lửa gặp giấy khô lập tức bùng lên dữ dội, ánh lửa đỏ rực, ấm áp chớp mắt đã nuốt chửng những trang giấy viết toàn lời dối trá, chiếu sáng khuôn mặt gầy gò, thanh thản và ngạo nghễ của quan nhỏ giữ kho. Hắn quay lưng về phía mật đạo, tay cầm chặt cây bút lông, tư thế hiên ngang đứng chắn trước cửa mật thất.“Để ta ở lại nơi này… dùng mạng tàn này làm chứng cho sự thật cuối cùng!”Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: Hạ Cầm Thanh bị ba vị thư sinh kéo mạnh vào trong bóng tối của mật đạo. Qua khe cửa bí mật đang dần khép lại, hình ảnh cuối cùng nàng nhìn thấy là bóng dáng gầy gò của Thẩm Yến Thanh ngồi ngạo nghễ giữa biển lửa đang bừng bừng lan tới. Hắn không chạy, hắn đón nhận cái chết như một sự giải thoát và vinh quang tột cùng của một người chép sử.Khói đen và lửa lớn bốc lên ngùn ngụt từ Sử quán Hàn Lâm Viện, xé toạc màn đêm đầy tuyết lạnh, nhuộm đỏ rực cả một góc trời đêm của Kinh thành Trường An phồn hoa.---Vụ hỏa hoạn thiêu rụi Sử quán Hàn Lâm Viện trở thành một sự kiện chấn động Kinh kỳ suốt nhiều tháng trời sau đó.Thẩm Yến Thanh chết cháy trong biển lửa, thân xác hóa thành tro bụi cùng những trang giấy cũ. Triều đình nhanh chóng ra thông báo chính thức: Vị quan giữ kho tư liệu Thẩm Yến Thanh do bất cẩn trong đêm đông đã làm đổ đèn dầu, dẫn đến vụ hỏa hoạn nghiêm trọng, thiêu rụi toàn bộ tư liệu tham khảo cũ của năm Vĩnh Gia thứ mười hai. Một cách kết án gọn gàng, đổ hết mọi trách nhiệm lên đầu một người đã chết.Hai ngày sau vụ cháy, một đạo thánh chỉ từ nội đình ban xuống. Chu Thừa Lân bị bãi miễn hoàn toàn chức vị Hộ Bộ Thị Lang, thu hồi lại tất cả ấn tín, ngọc bài, giáng làm thường dân và bị trục xuất khỏi kinh thành Trường An vĩnh viễn vì tội “thiếu trách nhiệm, lơ là trong việc giám sát, bảo an quá trình biên soạn quốc sử, để xảy ra hỏa hoạn làm tổn hại đến tài liệu triều đình”.Không có một cuộc đại thắng vĩ đại nào của công lý diễn ra ở Kinh thành Trường An. Không có vị đại thần tham ô nào năm xưa bị lôi ra ánh sáng, không có bản án oan sai nào được lật lại. Hoàng đế đương triều vẫn ngồi vững vàng trên ngai vàng rực rỡ, bộ quốc sử chính thống “Đại Đường Vĩnh Gia Thực Lục” vẫn được tổng duyệt, khắc bản in và ban bố khắp thiên hạ với những dòng chữ vàng son ca tụng một thời kỳ thái bình thịnh thế không một tì vết. Hệ thống quyền lực khổng lồ, tàn bạo ấy vẫn tiếp tục vận hành một cách hoàn hảo, lạnh lùng như một cối xay thịt, nghiền nát tất cả những kẻ yếu đuối hay những kẻ cố chấp dám đứng ra cản đường nó.Vào một buổi chiều xuân ấm áp của ba năm sau.Tại một thị trấn nhỏ nghèo nàn, hoang vu thuộc vùng biên thùy phía Tây Bắc quanh năm chỉ có gió cát và những rặng liễu cằn cỗi, cách xa kinh thành Trường An phồn hoa hàng ngàn dặm đường. Tại đây, ở góc chợ nhỏ, có một tòa nhà gỗ hai tầng đơn sơ mang tên “Tự Lưu Các”.Nơi đây không phải là tiệm bán sách cổ của các bậc nho sĩ, cũng không phải là thư viện chính thức của quan phủ địa phương. Đó là một thư lâu dân gian độc nhất vô nhị chốn biên thùy hoang dã này. Người dân quanh vùng, từ những ông lão nông phu cả đời thất học, bàn chân nứt nẻ vì bùn đất, cho đến những vị tú tài nghèo rớt mồng tơi thi mãi không đỗ, từ những góa phụ mất chồng trong chiến tranh cho đến những người lính già giải ngũ mang đầy thương tích trên người… ai nấy đều tự nguyện mang đến đây những thứ đồ vật kỳ lạ, vụn vặt nhất của cuộc đời mình.Đó có thể là một bức thư tay gia đình thấm đẫm nước mắt gửi từ tiền tuyến, một tờ gia phả dòng họ bị rách nát sau những trận cướp bóc, một cuốn nhật ký hành quân nguệch ngoạc của một người lính, hay thậm chí chỉ là vài dòng ghi chép mộc mạc bằng than trên vỏ cây về một năm làng quê bị mất mùa, bách tính phải chia nhau từng củ sắn rễ cây.Tất cả những mảnh vỡ ký ức vụn vặt, hèn mọn của dân chúng ấy, khi mang đến Tự Lưu Các, đều được một người phụ nữ có khuôn mặt bình thản, đôi mắt trong trẻo và mười đầu ngón tay đầy những vết chai mực cẩn thận đón lấy. Nàng dùng hồ dán cổ, dùng giấy xuyến mỏng và kỹ thuật phục chế điêu luyện của mình để vá lại từng vết rách, đóng chúng thành từng tập sách ngay ngắn, ngăn nắp và xếp lên những giá sách bằng gỗ thông thơm ngát hương rừng. Người phụ nữ ấy, chính là Hạ Cầm Thanh.Nàng đứng trước giá sách lớn nhất ở tầng hai, nhẹ nhàng dùng một chiếc khăn vải mềm lau sạch lớp bụi mỏng bám trên một tập sách dày có bìa bọc bằng loại vải thô màu xám tro trang nghiêm. Tập sách ấy chính là phần bản thảo chép tay dài hàng vạn chữ mà nàng và Thẩm Yến Thanh cùng ba vị thư sinh đã liều mạng sao chép được hai phần ba trong đêm hỏa hoạn năm xưa tại Sử quán Trường An. Suốt ba năm qua, đi khắp các vùng quê Hà Bắc và biên thùy, Hạ Cầm Thanh đã tự mình tìm gặp những người sống sót, gom góp thêm những cái tên để tự tay viết nốt một phần ba còn lại, hoàn thành trọn vẹn cuốn sách.Trên bìa cuốn sách vải xám ấy, nàng tự tay đề một dòng chữ bằng mực đen vô cùng dứt khoát: “Thanh Bình Thực Lục – Những Người Đã Chết Vào Năm Thái Bình Vĩnh Gia Thứ Mười Hai.”Tiếng bước chân quen thuộc, trầm ổn và thong thả vang lên từ phía cầu thang gỗ cũ kỹ vang lên từng tiếng “lạch cạch”.Chu Thừa Lân mặc một chiếc áo trường bào bằng vải thô màu xanh chàm đơn giản của dân thường, tay xách một chiếc giỏ tre đựng vài mớ rau tươi vừa mua ở chợ và vài thỏi mực đen bình thường, rẻ tiền bước vào phòng. Ba năm rời xa chốn lầu vàng điện ngọc, rời xa đỉnh cao quyền lực của một vị Hộ Bộ Thị Lang, mái tóc đen mượt năm xưa của hắn giờ đây đã lốm đốm nhiều sợi bạc trắng vì sương gió biên thùy. Những nét sắc sảo, kiêu ngạo và lạnh lùng trên gương mặt tuấn tú ngày nào đã bị gió cát vùng biên ải mài mòn hoàn toàn, thay vào đó là một vẻ điềm đạm, ôn hòa và an nhiên tự tại của một người đã thực sự tìm thấy lối thoát cho linh hồn của chính mình.Ngay từ đầu, khi đưa chùm chìa khóa mật thất Sử quán cho nàng, Chu Thừa Lân đã tỉnh táo biết rõ một con người nhỏ bé không bao giờ có thể chiến thắng hay lật đổ được cả một hệ thống quyền lực vĩ đại, tàn bạo của một triều đại. Hắn biết Thẩm Yến Thanh sẽ chọn cái chết, hắn biết bản thân mình sẽ bị l*t s*ch triều phục, bị bãi chức vĩnh viễn. Nhưng hắn vẫn quyết định làm điều đó. Vì trong những đêm dài thức trắng đối mặt với lương tâm của chính mình trong phủ Hộ Bộ Thị Lang, hắn chợt nhận ra rằng: Ý nghĩa của việc đấu tranh không phải lúc nào cũng là lật đổ kẻ mạnh ngay lập tức. Đôi khi, ý nghĩa lớn lao nhất là phải có ít nhất một con người dũng cảm sống sót bước ra khỏi cái hệ thống dối trá ấy, để sống một cuộc đời thực sự, một cuộc đời từ nay về sau không bao giờ phải cúi đầu hay giả vờ nhắm mắt trước sự thật nữa. Hắn chấp nhận làm bệ đỡ, chấp nhận tự hủy hoại tương lai của mình để đưa người phụ nữ có linh hồn thuần khiết nhất bước ra ngoài thế giới tự do này.Chu Thừa Lân nhẹ nhàng đặt chiếc giỏ tre xuống góc bàn, hắn bước đến đứng sát bên cạnh Hạ Cầm Thanh, tự nhiên cầm lấy thỏi mực đen thô ráp trên nghiên đá, bắt đầu mài mực giúp nàng giống như những ngày hai người còn ở thuở hàn vi, chưa bước chân vào Kinh thành.“Hôm nay trong tiệm có cuốn sách nào mới của bách tính mang đến không?” Chu Thừa Lân khẽ hỏi, giọng nói ấm áp, tràn đầy sự dịu dàng.“Có một vị lão binh vừa đi khập khiễng mang đến đây một tập ghi chép tay.” Hạ Cầm Thanh ngước nhìn hắn, nụ cười của nàng rạng rỡ, trong sáng dưới ánh nắng xuân. Ánh mắt của hai người gặp nhau giữa căn phòng đầy mùi giấy mực cổ, trong mắt họ không còn sự xa cách, nghi kỵ của bức tường phủ Hộ Bộ Thị Lang năm xưa, không còn nỗi đau đớn, bất lực của quá khứ đẫm máu ngoài kia. Giờ đây, chỉ còn lại một sự thấu hiểu sâu sắc, một sự gắn kết định mệnh của hai kẻ đồng hành đã cùng nhau đi qua địa ngục để tìm thấy ánh sáng của sự thật.“Tập ghi chép ấy ghi lại tên tuổi của mười tám người thợ gốm nghèo ở làng bên bị quan phủ bắt đi phu xây dựng lăng mộ hoàng gia năm ngoái rồi bị sập hầm chết sạch, không một ai đứng ra bồi thường hay ghi danh. Ta đang chuẩn bị vá lại nó để xếp lên giá.”Một cô bé nhỏ tuổi, tết bím tóc hai bên, là con của nhà nông phu hàng xóm chạy tung tăng vào trong tiệm chơi. Cô bé tò mò nhìn ngắm những giá sách gỗ cao ngất ngưỡng chất đầy những cuốn sách thô sơ, rách nát, bìa bọc vải thô chứ không hề lộng lẫy như sách ở trường học. Cô bé ngước khuôn mặt ngây thơ cùng đôi mắt tròn xoe lên nhìn Hạ Cầm Thanh, nghiêng đầu hỏi:“Hạ nương tử, thầy đồ ở trường học nói với chúng ta rằng: Sách sử thì phải ghi chép lại chuyện kinh thiên động địa của Hoàng đế vĩ đại, của các vị tướng quân cưỡi ngựa ra trận lập công danh thì mới được gọi là lịch sử. Vậy còn những cuốn sách cũ nát, xấu xí này của tỷ… chúng ghi lại chuyện của những người nông dân, người lính nghèo thôi mà. Vậy đối với tỷ, lịch sử thực sự là gì vậy?”Hạ Cầm Thanh nghe vậy thì dừng con dao tre đang tỉ mẩn cạo vết ố trên tay lại. Nàng chậm rãi bước đến bên ô cửa sổ lớn của tầng hai, nơi ánh nắng mùa xuân ấm áp, rực rỡ đang nhảy múa trên những trang giấy thô ráp được vá lại một cách hoàn hảo, khéo léo qua đôi bàn tay nàng. Nàng cúi xuống, nhẹ nhàng v**t v* mái tóc tơ của cô bé, ánh mắt nhìn ra rặng liễu đang đâm chồi nảy lộc ngoài xa, rồi chậm rãi trả lời bằng một giọng nói dịu dàng nhưng vang vọng, truyền cảm.“Lịch sử thực sự không phải chỉ nằm ở những pho tượng vàng son chói lọi chốn cung đình Kinh thành, cũng không phải chỉ là những lời ca tụng một chiều của các bậc vương hầu khanh tướng. Lịch sử thực sự của thế gian này… chính là những điều mà có những con người bình thường đã chấp nhận liều mạng sống của mình, chấp nhận mất đi tất cả để giữ lại bằng được, để nói cho đời sau biết một sự thật rằng: Trên mặt đất rộng lớn này, mỗi một con người bình thường, dù là hèn mọn, dù là nghèo khổ đến đâu, thì họ cũng đã từng thực sự sinh ra, thực sự đau đớn, và thực sự tồn tại như một con người.”(Hết)
